Trở Lại Nha Trang

15/09/201721:16(Xem: 9929)
Trở Lại Nha Trang
TRỞ LẠI NHA TRANG
 
Nguyễn Nguyên An
nha-trang-vietnam-2

 

Tôi, hơn mười năm trở lại, Nha Trang lớn dậy bề thế về mọi mặt, nhất là du lịch. Tôi là người ăn chay, được các chị tổ bếp lo cho những bữa cơm chay đầy đủ ngon miệng, tiếp lửa cho những trang viết mới toanh. Có lẽ đây là một duyên lành tôi nhận được.  

Tôi đã ở Nha Trang hơn bốn mươi năm trước, thường nghe câu ca dao của người dân:

                                Ai về viếng cảnh Khánh Hoà

                                Long Sơn nên ghé, Tháp Bà đừng quên,

                                Kim thân Phật tổ nhớ lên,

                               Nhìn ông Phật trắng ngồi trên lưng trời.

 Hồi đó, tôi đã thấy tượng Phật Tổ tỏa sáng trên nên trời cao rộng, tôi lại lâm râm niệm Phật. (Khánh Hoà là xứ sở Trầm hương, nổi danh với những phong cảnh nên thơ yên bình, Từ lâu đời, sắc thái tâm linh Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm trong tâm hồn dân tộc Việt, tô điểm cho cả vẻ đẹp phong cảnh lẫn cái đẹp nếp sống con người nơi đây.) 

Chùa Sắc tứ Long Sơn ở Thành phố Nha Trang có địa thế rất đẹp, trước đây được dựng trên một khu đất cao, cây cối xanh tươi, nằm bên cạnh đường phố chính, giữa lòng thành thị đông đúc mà vẫn giữ không gian thâm u, tĩnh mịch. Những dãy nhà làm học viện, văn phòng, tịnh thất kết hợp với ngôi chùa đồ sộ, tạo thành một cấu trúc hoàn chỉnh ẩn bóng dưới những hàng cây Bồ-đề cao lớn, cành lá sum suê cùng những rặng cây kiểng bao quanh. Bão lũ năm Canh Tý đầu thế kỷ 19, chùa bị sập hoàn toàn, tổ khai sơn chùa quyết định dời chùa xuống chân đồi Trại Thủy. Hoà thượng Ngộ Chí cho xây ngôi chùa nhỏ một gian hai chái rồi đổi tên chùa từ Đăng Sơn tự thành Long Sơn tự. Ngày nay, chùa tọa lạc ở số 20 đường 23 tháng 10, phường Phương Sơn, chính diện hướng Nam. Phía trước chùa vẫn con đường huyết mạch giao thông, du khách đi từ Nam ra Bắc hay ngược lại, cả đường bộ, đường thuỷ, hay đường hàng không, đều có thể trông thấy Chùa Long Sơn với Kim Thân Phật Tổ ngự uy nghiêm trên lưng đồi.

 Từ chùa chính, muốn lên pho tượng Kim Thân Phật Tổ phải đi lên 193 bậc tam cấp. Khi đến bậc thứ 44 khách thăm quan tượng Phật Tổ nhập niết-bàn dài 17m, cao 5m, đằng sau tượng là bức phù điêu mô tả cảnh 49 đệ tử niệm phật. Tượng được xây dựng năm 2003… Sau đó tiếp tục hành trình viếng thăm tượng Kim Thân Phật Tổ (còn gọi là tượng Phật trắng) ngự trên đỉnh đồi. Kim Thân Phật Tổ chính là biểu tượng làm nên nét đẹp đặc thù của Thành phố biển xinh đẹp. Đứng trên đỉnh đồi Trại Thủy, Du khách có thể chiêm ngưỡng Kim Thân Phật Tổ với dáng ngồi uy nghiêm thư thái giữa nền trời xanh mây trắng, với nét mặt từ hoà và nụ cười thanh thoát điểm nhẹ trên môi. Tượng được khởi công năm 1964, hoàn thành năm 1965, với chiều cao từ mặt bằng lên 24m, đế tượng cao 21m, thân tượng cao 14m, đài sen 7m, đường kính đài sen 10m. Chung quanh đế Phật đài là những bức phù điêu đấp nổi chân dung hình 7 vị Thánh tử đạo vì pháp thiêu thân dưới thời Ngô Đình Diệm. Dù đứng chiêm bái nơi đâu trên triền núi, du khách cũng đều cảm nhận như từ Kim Thân Phật tỏa ra đủ đức lành: Bi-Trí-Dũng. Từng nếp y đắp trên Kim Thân sống động như chính Đức Như Lai đang thị hiện. Khi chiều về, ánh thái dương rọi chiếu, tưởng như muôn vầng hào quang rực rỡ đang toả phóng cả một vùng sáng huyền diệu. Nhìn toàn cảnh, Long Sơn có địa thế rất đẹp. Hoa viên Long Sơn Đại Tự bên phải con đường vào chùa. Hoa viên Long Sơn tựa như một đóa sen vươn lên từ hồ nước đọng. Đây chỉ là một hoa viên nhưng gói gọn đủ cả cảnh nước non sơn thuỷ hữu tình thu nhỏ, tựa như một bức tranh thiên nhiên sinh động.

 

Với lịch sử trên 100 năm (1886-2005) kể từ ngày khai sơn, chùa Long Sơn trải nhiều đời trụ trì với nhiều lần trùng tu, nay đã lập nên những kỳ tích lưu truyền cho bao thế hệ mai sau như để nói lên sự bất biến vĩnh hằng của chánh pháp giữa cuộc sống đời thường này.

Ngày nay, chùa Long Sơn đã trở thành một ngôi chùa danh tiếng, có phạm vi ảnh hưởng rộng trong đời sống tinh thần nhân dân và Phật tử Khánh Hòa. Ngay sau lưng chùa là tượng Phật Thích Ca nhập niết-bàn mới được điêu khắc vào năm 2003. Làm phông cho tượng là một bức tường đá màu trắng pha chút xanh nhạt có hình 36 vị La Hán ngồi hầu, tạo nên một khung cảnh trang nghiêm tĩnh lặng. Cùng với con đường đá dẫn lên Kim Thân Phật Tổ, ngay lưng chừng đồi có một gác chuông với Đại hồng chung nặng 1.500 kg. Tiếng chuông nơi đây ngày hai buổi sớm tối vang ra cả những vùng lân cận của thành phố. Khi mọi hoạt động của con người đã ngừng nghỉ sau một ngày lao động bôn ba trong cảnh phong trần, hòa vùng trời đêm tĩnh mịch, có được phút giây lắng động, từ nơi đây tiếng chuông vang hưởng ngân xa như giục thức tỉnh lòng người tìm về bến Giác, trút bỏ bớt những triền phược thế gian. Ngược lên hướng đồi phía Tây với con đường nhỏ dẫn đến khu Tháp chư vị Tổ sư và những vị cao Tăng có hành trạng gắn bó đất Khánh Hoà. Chính nơi vùng đồi thiêng này, là nơi lí tưởng cho sự nghiệp hành đạo của bao vị cao Tăng, những bậc Thạch trụ đã một thời ươm mầm giải thoát nơi Phật Học viện Trung phần Hải Đức, và mãi toả hương Ưu đàm cho vùng đất nhân hiền tụ khí này. Phủ tàng che mát nghiêm trang cho những toà tháp là những cội cổ thụ phủ bóng hàng trăm năm mang đậm nét Tòng Lâm cổ kính. Ngoài phía phải sân chùa là Trường Trung cấp Phật học Khánh Hoà, và khu nội trú của Tăng Sinh. Và đặc biệt, gần mười năm trước đây (Năm 2007), Tỉnh Giáo Hội đã xây dựng khu tượng đài Bồ Tát Quảng Đức bằng đá với bức phong giả sơn hùng vĩ bên phía tả cổng Tam Quan. Tôi đứng trầm ngâm dưới chân tôn tượng Bồ-tát Thích Quảng Đức, trong đầu tôi hiện lên một cuộc đối thoại. Tôi xin chép ra đây:

           “Đối thoại với Bồ-tát:  

           Kính bạch Hòa thượng, sao Ngài đi tu?  

           Tại sao con không đi tu  

           Con yêu sự sống  

           Ta cũng yêu sự sống 

           Kính bạch Hòa thượng, sao Ngài tự thiêu?  

           Sao con không tự thiêu  

           Con nâng niu sự sống chính con  

           Ta nâng niu sự sống người khác. 

           Buông xả thân mạng mình cho người khác  

           Buông xả thân mạng mình cho đạo pháp  

           Cái chết làm nên Bồ-tát  

           Nam mô Thích Quảng Đức Bồ-tát Ma-ha-tát”

 Đến chùa, Trưởng lão HT.Thích Thiện Bình, Phó Pháp chủ HĐCM, Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, trụ trì chùa từ 2013 đến nay vừa viên tịch. Quý thầy quá bận rộn, đã giới thiệu cô Chi Phật tử đạo tràng Long Sơn đưa tôi đảnh lễ chư Phật, Bồ-tát và tham quan cảnh chùa. Tôi được gặp Hòa thượng – bác sĩ Thích Hải Ấn từ Huế vào. Tôi thưa: “Thưa thầy, con vào đây không ngồi thiền được 1 giờ như trước”. Hòa thượng dạy: “ Cố gắng tu tập theo hạnh của Phật, nhất là thiền tập, không ngồi được 1 giờ chỉ 20 phút đều đặn cũng tốt ”.

Chiều, tôi thả bộ trên đường biển Phạm Văn Đồng trước Nhà sáng tác Nha Trang,  đến khu vực tập thể dục dụng cụ, hiện có 13 dụng cụ, tôi ghé lên tập thử. Tôi trò chuyện với một anh bạn mới tên là Bùi Tự Trọng, nhà ở số 69 tổ 11, phường Vĩnh Hải, TP Nha Trang. Anh Trọng tâm sự: “Tôi 65 tuổi, quê Phú Yên, ở Nha Trang mấy chục năm rồi, ra đây tập thể dục ngày 1 giờ, nhờ bác sĩ đại dương (là biển, nắng gió của biển), tôi không bị  bệnh gì. Tôi đã đi qua nhiều thành phố, tôi thấy Nha Trang là thành phố đẹp nhất. Bốn mùa ôn hòa thoáng mát. Huế của anh cũng đẹp, nhưng thời tiết khắc nghiệt”. Nói chuyện đạo, anh Trọng nói thêm: “Tu là cõi phúc, người đi tu được phước. Tu cần không dối lòng là trọn đủ” 

 Những bữa cơm chay ở Nhà Sáng tác Nha Trang luôn ngon miệng đối với người chay tịnh như tôi. Chị Đức bếp trưởng thường thăm hỏi: “Cháu nấu chay như vậy chú có ăn được không?”. Bà Hương giám đốc cũng thăm hỏi tôi những câu như thế. Tôi chân thành cám ơn, vì ở Huế, bữa ăn của tôi chỉ đơn giản một món, như rau cải xào, mè đậu, xì dầu, khuôn đậu kho... Tôi vẫn ngon miệng với hai phần lon gạo nấu cơm nóng ăn cùng xì dầu “xắm” ớt. 

   Tôi viết bút ký này trong nền nhạc Chú Đại Bi - Lời: Kinh Phật – do Phật tử Tâm Quế (Đoàn Lan Hương) một thành viên của đoàn đã phổ nhạc. Con người sinh ra là bắt đầu đi về phía nghĩa trang, những đứa con tinh thần hoài thai ở quê nhà, sinh ra ở Nhà sáng tác Nha Trang sẽ lớn dậy tròn lành và đi vào lòng người, theo quy luật có thể nó cũng bị lớp bụi thời gian dìm vào quên lãng, nhưng lúc nào đó có anh khảo cổ, chị nghiên cứu gọi nó thức dậy, nó lại tiếp tục ngân lên lời cổ tích, những cung bậc xa xưa cho thế hệ sau một chút bâng khâng, chút trầm tư hoài niệm là cũng đủ tròn trách nhiệm của một đứa con ngoan sinh ra từ vòng tay của những bà đỡ văn  nghệ…

Nguyễn Nguyên An

 

 

 

Địa chỉ:

 

Nguyễn Nguyên An

TỊNH CỐC TÂY AN

11/11/69 Lê Ngô Cát, TP Huế

Tel: 01688971486

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/01/2021(Xem: 14901)
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Với một nước nông nghiệp như nước ta, hình ảnh con trâu nặng nề lầm lũi, kềnh càng cục mịch luôn gắn bó với những cánh đồng thửa ruộng, thân thiết với bao người nông dân chân lấm tay bùn, và gần gũi với lũ trẻ mục đồng thường nghêu ngao bài hát quen thuộc “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!”… Không chỉ như thế, trâu cũng đã từng gắn bó với cuộc đời một vài danh nhân lịch sử như Đinh Bộ Lĩnh, Đào Duy Từ… Đối với nền văn học nước nhà, con trâu còn có cái công rất lớn trong việc làm phong phú ngôn ngữ, nhất là trong ca dao- đồng dao-tục ngữ.
01/01/2021(Xem: 11363)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12241)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12714)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11693)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11832)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12527)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 12013)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11588)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 10436)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.