Thưa Thầy, con hoàn tục !

23/08/201718:29(Xem: 11697)
Thưa Thầy, con hoàn tục !


giac-minh-luat

THƯA THẦY - CON HOÀN TỤC!

GIÁC MINH LUẬT


Thật lòng mà nói thì Tâm cũng chẳng muốn hoàn tục làm gì, vì với Tâm cuộc đời xuất gia là con đường, là hướng đi lý tưởng nhất mà Tâm có thể dành trọn lòng mình để phụng sự chúng sanh như những gì mà Tâm đã từng mong ước.


Nhưng rồi, ai mà có ngờ được đâu - cuộc sống vốn là vô thường biến chuyển, được mất, hơn thua giữa cái có không trong cái định luật tự nhiên của đất trời mà chính Tâm cũng không thể nào lường trước được.


Nên bây giờ, mở mắt ra Tâm đã thấy hình ảnh của mình trong chiếc gương soi trước mặt với thân hình hoàn toàn khác, tóc Tâm đã dài, mắt Tâm đã thâm quầng, và khuôn mặt đã hiện lên bao vẻ khắc khổ đầy gió sương, rồi Tâm chợt nhớ lại chỉ mới đây thôi, cái ngày của ba năm về trước.

Cái ngày mà Tâm đã đảnh lễ từ biệt Sư phụ và huynh-đệ để ra đi, để đi tìm thứ mà Tâm tạm gọi là hạnh phúc trần đời hay hạnh phúc đích thực của hai con người, cái mà ai cũng khổ, cũng phải vì nó mà nước mắt đã bao lần tuôn rơi vì ngộp thở trong sợi dây vô hình của nợ, của duyên.

Lâu lắm rồi, sáng nay những kỷ niệm xưa mới chợt ùa về trong tâm trí của Tâm, Tâm thấy nhớ mái chùa xưa, nhớ Sư phụ, nhớ mấy huynh-đệ cùng một thời làm tiểu với mình nữa, những người mà đã từng cùng Tâm “vào sinh ra tử”, cùng ngồi cạnh bên nhau cất cao bài kệ hòa trong tiếng chuông vang rền cầu nguyện thiêng liêng:

Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới

Xa xôi tăm tối cũng đều nghe

Những ai lạc bước mau dừng lại

Tỉnh giấc hôn mê thấy nẻo về.

Đọc đến đây tự nhiên Tâm khóc, Tâm thấy nhớ lắm, nhớ những gì mà Tâm đã từng một thời nguyện ước, một thời hứa hẹn trước lúc xin mẹ đi tu – rồi cái ngày mà Tâm báo cho mẹ biết là mình đã hoàn tục – Tâm đã thấy mẹ khóc, mẹ đã khóc thật nhiều, khóc như là lúc mà mẹ đã quyết định cho Tâm đi tu vậy. Giọt nước mắt lăng dài trên khuôn mặt khắc khổ của mẹ và tình thương cao cả đó đã luôn khắc sâu vào trong tâm trí của Tâm.

Tâm cứ nhớ hoài lời mẹ nói: “Cho dù con có là nhà sư hay là ai đi chăng nữa thì vẫn mãi là con của mẹ – mẹ không bao giờ bỏ con đâu – Tâm à”. Nói đến đây mẹ của Tâm nghẹn lời mà khóc trong điện thoại và không nói được lời nào nữa khi nghe Tâm gọi điện báo tin như thế.

Nhưng Tâm phải biết làm sao, vì lòng của Tâm cũng đau như cắt, vì Tâm thương mẹ nhiều lắm, thương cả ba và mấy đứa em nhỏ ở nhà nữa, vì cũng lâu lắm rồi Tâm cũng chưa có dịp về thăm lại mấy đứa nhỏ, đứa nào cũng bảo là hãnh diện về anh trai đi tu của nó nhiều lắm, về một nhà sư hiền lành, đức hạnh mà trong xóm nghèo ai cũng thương cũng quý.

Rồi mấy đứa nhỏ ai cũng khóc khi nghe tin anh trai đã hoàn tục, tụi nó tức giận bảo với mẹ trong điện thoại là không được cho anh trai trở về nhà, đuổi anh trai đi luôn đi - vì tụi nó nói là không có người anh như thế.

 

Nghe đến đây, Tâm chỉ biết nói lời sau cùng trong ức nghẹn: - Mẹ ơi! Các em ơi! Hãy tha thứ cho con – cho người anh trai này. Rồi Tâm tắt máy ngồi bệt xuống đường đầy xe cộ qua lại.

Đúng là mẹ - mẹ thì lúc nào cũng bao dung, cũng độ lượng, và thương con với một thứ tình thương vô điều kiện, nhưng còn mấy đứa em, mấy đứa nó đâu có tha thứ, đâu có chấp nhận anh trai của nó. Vì nó bảo hồi đó đã một lần khi anh xin mẹ đi tu – mẹ đã khóc rất nhiều và mẹ đã nén lại nỗi đau của riêng mình để chấp nhận hy sinh cho anh ra đi với niềm hy vọng là anh sẽ trở thành một nhà sư biết dấn thân phụng sự cuộc đời – điều mà đã làm cho mấy đứa em đã từng hãnh diện khi nghĩ về anh như thế.

Nhưng nay, mọi thứ dường như đã khác đi - lại một lần nữa anh lại làm cho mẹ phải buồn, phải khổ như vậy nên mấy đứa em nói với lòng là sẽ không chấp nhận anh nó nữa.

Còn Tâm biết phải làm sao, giữa đôi đường đạo – đời tuy rất gần nhưng cũng rất xa, xa như những tinh tú, những vì sao vời vời trên bầu trời cao cô đơn đang lấp lóe những ánh sáng nhỏ nhoi sau cùng khi trời vừa hừng sáng để soi chiếu vào hành tinh bé nhỏ đầy đơn côi này.

Đúng là duyên, duyên là định luật, hay là thứ phép mầu nào vậy mà có thể đủ sức biến hóa hay điều khiển con người ta phải đi theo một chu trình như được định sẳn của mỗi con người để rồi ta cũng chính nhờ đó mà có cái để đỗ thừa cho mọi thứ với một chữ duyên tròn trịa.

Nhưng rồi thời gian hay nỗi đau nào cũng dần phai nhòa và thấm thoát trôi qua, sau một thời gian vòng quanh giữa đời - nay Tâm đã có vợ - có con, nói không phải khoe, chứ Tâm có đứa con gái kháo khỉnh thật dễ thương, nó thương cha nó như tình thương mà hồi đó Tâm thương mẹ Tâm vậy. Ngày nào Tâm cũng phải đưa con đi học và đón về, còn vợ Tâm – người con gái mà đã làm cho Tâm được nếm trải vị ngọt bùi của tình yêu và say nồng trong men đắng.

Tâm cũng thương vợ nhiều lắm, nhưng quả thật cuộc đời này nó không đơn giản như những gì mà Tâm đã từng nghĩ, từng ước mong, vì Tâm như hạt bồ đề đang vừa bị rơi ra khỏi thân và cội của nó để nằm trơ trọi một mình giữa đất khô cằn cỗi.

Tâm thất vọng, Tâm chán chường, Tâm cũng nhiều lần hận lấy cuộc đời này lắm – vì nó quá trơ trẽn, phụ bạc và hai lòng để Tâm phải dần dần tập thích nghi và sống với nó, điều mà trước kia đối với Tâm là một tội lỗi mà nay nó đã trở thành bản năng, bản năng để sinh tồn và để vì con.

Rồi cũng từ đó, cơn nước lớn đã cuốn Tâm đi thật xa, Tâm đã khôn lanh hơn rất nhiều, Tâm nay đã hơn được rất nhiều người, Tâm có địa vị, có mưu mẹo để có thể kiếm ra thật nhiều tiền để có thể mang lại hạnh phúc cho gia đình.

Nhưng sao mỗi đêm về, Tâm lại cảm thấy cô đơn, một cảm giác cô đơn đến lạ kỳ, Tâm chỉ có thể nằm bên cạnh con để vuốt tóc cho nó ngủ thật ngon bên tình thương của cha nó và chắc cũng là cách để Tâm có thể chờ vợ về sau những cuộc vui.

Giận lắm, vì sao vợ Tâm lại coi thường Tâm đến thế, dù gì Tâm cũng là một người thành đạt, một người chồng tốt, hay có phải chăng là một kẻ khờ, một kẻ vụng dại không biết yêu và làm cho người mình yêu trở nên hạnh phúc.

Cứ thế, trong sự cô đơn và đợi chờ Tâm mới thấm thía thế nào cái mà gọi là mật ngọt của tình yêu, sao quá mong manh và lờ lợ đến thế, vì Tâm thừa biết vợ mình đã chán, chán lắm rồi, để bắt đầu cho cuộc tình mới với một người con trai mới mà giống như Tâm đã từng đón nhận trong niềm hạnh phúc để chấp nhận từ bỏ tất cả cũng chỉ vì cái cảm giác được yêu này.

Chưa bao giờ Tâm thấy mình cô đơn và bất lực khi mọi sự nỗ lực hàn gắn của mình đã trở nên chai lì và vô nghĩa.

Rồi Tâm chợt buồn, buồn lắm, Tâm không thể nào ngủ được nên vội ngồi dậy mồi cho mình điếu thuốc để mượn khói sương đưa hồn mình vào trong lãng du và quên lãng.

Giờ đây chỉ có màn đêm mới có thể thủ thỉ cùng Tâm và ru Tâm ngủ bên những luồng gió nhẹ đang đưa Tâm vào trong cơn say nồng của men rượu đắng, để Tâm quên đi tất cả, để Tâm được lạc vào một cảnh giới hoàn toàn khác mà trong đó Tâm có thể tìm lại cho mình những ký ức đẹp của một thời tuổi thơ.

Tâm mơ – Tâm mơ thấy mình đang thập thò, thẹn thùng và hồi hộp khép nép bên mẹ mà không dám mở lời xin mẹ đi tu, cứ thế mà Tâm cứ nói trong ấp úng đầy ngượng ngạo thật dễ thương:

-      Mẹ ơi! Cho con đi tu nha – rồi Tâm cười.

Mẹ Tâm vừa cười, vừa nói trong bất ngờ: - Trời, thằng cu Tí con tui nay muốn làm thầy thiêng hạ rồi ha – rồi mẹ vội ôm Tâm vào lòng trong niềm hạnh phúc.

Chợt Tâm thấy nhớ mẹ nhiều lắm, vừa trong cơn mơ mà Tâm vừa khóc, vừa kêu mẹ trong cơn say nồng, lẩm bẩm kêu:

- Mẹ ơi! Con nhớ mẹ nhiều lắm – mẹ có nhớ con không, con đang cô đơn lắm mẹ à! Con nhớ mấy đứa em nữa, mấy đứa nó đã tha thứ cho con chưa hả mẹ. Mẹ nói mấy đứa nó cho con về thăm mẹ nha mẹ - nói đến đây thì Tâm lại tiếp tục ngủ thiếp đi.

Rồi cũng chính trong cơn say nồng này, Tâm lại tìm thấy hình ảnh của tuổi thơ – Tâm thấy mình là một chú tiểu hồn nhiên và dễ thương đáng yêu của thuở nào, vì rằng hồi đó Tâm nổi tiếng là đẹp trai nhất chùa, nên ai cũng thương Tâm hết mực mà nhất là Sư phụ, sư phụ lúc nào khen là Tâm học giỏi, đạo hạnh và luôn hãnh diện về Tâm, rồi đến cái ngày mà Tâm được đắp y Sa-di, sư phụ là người hạnh phúc nhất khi nhìn thấy Tâm với khuôn mặt sáng trưng trong màu y vàng lấp lánh như một vị Bụt hiện thân vậy.

Sư phụ cứ cười miết, đi đâu cũng cười cũng hoan hỷ trong niềm tự hào về một người đệ tử như thế, rồi thầy cứ ghẹo: - Chú Huệ Tâm sau này mà lớn lên chắc tôi phải đi theo canh chừng mấy con cọp hai chân cho chú quá, kẻo không là nó tha về tổ mất - Rồi thầy cười to ghẹo chọc còn Tâm thì ngượng ngùng mắc cỡ.

Vậy mà mới đó thôi cũng chính sư phụ là người đau buồn nhiều nhất khi nghe Tâm đảnh lễ xin trả y áo lại để hoàn tục, và đây cũng là lần đầu tiên trong đời mà Tâm thấy sư phụ khóc, sư phụ khóc trong sự tế nhị của một vị tu hành lớn tuổi, khóc vì thương, thương cho một người đệ tử mà mình đã từng đặt nhiều kỳ vọng ở nó, thương cho cuộc đời nó rồi sẽ ra sao giữa muôn trùng sóng gió và cạm bẫy ngoài đời đang rình rập phía trước – nghĩ đến đây sư phụ của Tâm vội quay lưng lấy chiếc y của Tâm trả lại mà lau đi dòng nước mắt đang chảy ngược vào trong.

Mơ đến đây, Tâm chợt giật mình tỉnh giấc buồn rượi rượi, vì Tâm cũng nhớ sư phụ, nhớ mấy huynh-đệ nhiều lắm. Vì cũng đã lâu lắm rồi, Tâm đâu có dám bước chân về thăm lại mái chùa xưa, vì Tâm ngại, Tâm mắc cỡ với thầy, với huynh-đệ, với Phật tử.

 

Nhưng thôi! Cuộc đời mà có ai biết trước được chữ duyên là thế, đôi khi cũng chính trong những nỗi đau thương và thất vọng nhất của đời mình, thì khi đó con người ta mới trở nên cứng cõi và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Nghĩ đến đó, Tâm vội ngồi dậy bước vào phòng thăm lại đứa con thân yêu của mình, Tâm hôn trên trán con và vuốt tóc nó như lần sau cùng để từ biệt, Tâm nói: - Con yêu, ba xin lỗi con.

Rồi Tâm quẩy trên vai cái cặp xách và mấy bộ đồ để ra đi, Tâm sẽ về thăm mẹ - thăm mấy đứa em – Tâm cũng sẽ ghé về thăm Sư phụ - thăm mấy huynh-đệ và thăm lại những người Phật tử mà ngày xưa mà đã từng kỳ vọng ở Tâm, ở một nhà sư hiền lành đức hạnh.

Vừa bước chân ra khỏi cổng, Tâm vội đưa mắt nhìn lại ngôi nhà, nơi mà Tâm đã xây dựng nên bằng mồ hôi và nước mắt, với một tổ ấm, một tình yêu của hai con người mà chỉ mới đây thôi đã từng hứa hẹn thật nhiều điều với nó, về tương lai, về một tình yêu bền vững, rồi Tâm thầm trách, thầm hận lắm con người phụ bạc đó và hận cả chính mình nữa.

Rồi Tâm tự nói với lòng: - Tâm sẽ ra đi, đi thêm một lần nữa. Vì chắc rằng cái duyên, cái nợ của Tâm nay đã xong.

 

GIÁC MINH LUẬT

San Diego - Hoa Kỳ




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14328)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20279)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17454)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14980)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16767)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12787)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11673)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12157)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8087)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9159)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.