Bài 02

15/08/201721:05(Xem: 8178)
Bài 02
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA 
NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (2)
Tác giả: Đức Dalai Lama - 1994
Chuyển ngữTuệ Uyển - 2012

dalailama-0123175smHỎIHạnh phúc là gì và cuộc sống là gì? Giác ngộ là gì?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Theo kinh nghiệm của riêng tôi, chúng ta cảm thấytoại nguyện, tĩnh lặng và hạnh phúcHạnh phúc là hạnh phúc! Mọi ngườiđang cố gắng để đạt được hạnh phúc.

Cây cỏ có sự sống, nhưng tôi không chắc là chúng có cảm giác hay không. Chúng tatrái lạikinh nghiệm khổ đau và vui sướng. Khi chúng tanói về chúng sinhchúng ta liên hệ đến những tạo vật có sự sống cũng như những kinh nghiệm đớn đau và khoái lạc của chúng.

Giác ngộ, như tôi đã đề cập một cách vắn tắt trước đây, là sự hiểu biết hoàn toàn - không si mê và không chướng ngại. Tâm vi tế của chúng ta - điều mà chúng ta gọi là linh quang - có mọi khả năng để đạt đến giác ngộ và sự tỉnh thức tròn vẹn. Nhưng bây giờ, do bởi si mê, có nhiều chướng ngại trên bộ mặt của sự tỉnh thức hoàn toàn. Khi tất cả nhân tố tiêu cực biến mất, năng lực hay sức mạnh của tỉnh thức được phát triển hoàn toàn và đấy là những gì chúng ta gọi là Giác ngộ.

HỎICó thể gánh chịu nghiệp quả của người khác vì người ấy không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Nói một cách tổng quát, theo giáo huấn nhà Phật, chúng ta sẽ không chạm trán với kết quả của một hành vi mà chúng ta đã không phạm phải, và một khi chúng ta đã thực thi một hành động, hậu quả sẽ không bao giờ mất đi. Ở đây, tôi nghĩ thật quan trọng để có một sự phân biệt. Khi chúng ta đau khổchúng ta không chỉ cảm thấy đau đớn hay không thoải mái ngay thời điểm ấy, nhưng cũng là một loại bất lực và nản chí. Chúng ta hoàn toàn bị che phủ bởi nổi khổ ấy và như có một bóng đen tốiTừ bi là khi chúng ta có sự quan tâm đến khổ đau của kẻ khác và chia sẻ nổi khổ đau của họ trên căn bản là những người khác cũng có quyền bình đẳng như ta để hạnh phúc. Nổi khổ đau lúc ấy có thể làm cho chúng ta đau buồn hay làm hơi mất thoải mái, nhưng sự bức rức ấy được chấp nhận một cách tự nguyện với lý trí do bởi những nhận thức này và quyết định chia sẻ nổi khổ của họ. Vì thế sự buồn phiền và khó chịu ấy không để lại dấu vết đen tối trong tâm thức chúng taChúng ta phải thật rõ ràng và thật cảnh giácnếu chúng ta tự nguyện lãnh lấy khổ đau của kẻ khác.

HỎITrong thiền quán (vipassana), sự chuyển hóa nào xảy ra khi sự chú ý của hành giả di chuyển từ bộphận này đến bộ phận khác của thân thể?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Có nhiều loại thiền quán khác nhau. Theo như tôi biết, có một loại thiền quán lưu tâm đến thân thể. Khi chúng ta có sự luyến áichúng ta có một nhận thức rõ ràng về "thân thể tôi" và vào lúc ấy chúng ta đồng nhất với nó. Chúng ta cảm thấy rằng có một thân thể độc lập tồn tại. Nếu chúng tathiền tập trên những bộ phận khác nhau của thân thểcuối cùng cảm giác về một thân thể chắc thật hay điều gì đấy rất quý giá biến mất. "Thân thể tôi" bắt đầu có nghĩa như bao hàm nhiều phần tử và những sự phối hợp khác nhau. Một khi chúng ta nhận ra điều ấy, cảm nhận của chúng ta về sự cụ thể, thống nhất và quý giá không còn tồn tại nữa.

Chính niệm về thân thể liên hệ đến thiền quán trên những bộ phận khác nhau của thân thểThiền tập quan trọng nhất và năng lực nhất của thiền quán vipassana là thiền quán về tánh không hay shunyata.

HỎIMột câu hỏi cá nhân, tôi thất bại nhiều trong cuộc sống, nhưng cha tôi đã giúp tôi trong mỗi bước. Ông nói với tôi rằng tôi phải trở thành một người khá hơn từ những thất bại của tôi. Trong vài tháng, tôi trở nên rất tĩnh lặng, tôi không bị mất sự điềm tĩnh của tôi nhiều, nhưng bây giờ tôi đã có việc làm và thành côngtrong đời sống, tôi đã bắt đầu đánh mất sự điềm tĩnh của tôi. Tôi muốn đạt được điều gì đấy trong đời. Có sai không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Việc này khó trả lời. Tôi không biết căn bản niềm tin của bạn là gì, hay thái độ của bạn đối với cuộc sống và đối với những đời sống quá khứ và tương lai ra sao, tôi không biết chắc về lối sống của bạn. Sẽ có những công thức khác nhau tùy thuộc vào thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính bạn. Một cách tổng quát, bất cứ khi điều gì tiêu cực sinh khởi, tôi luôn luôn cố gắng để nhớ rằng những người khác cũng ít nhiều có những kinh nghiệm tương tự như thế. Suy nghĩ trong cách ấy thư thả một gánh nặng tinh thần nào đấy của tôi. Cũng thế, tôi luôn luôn cố gắng để tìm một khía cạnh tích cực nào đấy của trường hợp tiêu cực ấy. Đôi khi, nhận thức này cho phép chúng ta một kinh nghiệm tích cực và sáng tạo hơn. Vì vậybản chất của một sự kiện là tương đối. Một sự kiện có thể có những khía cạnh khác nhau và nếu chúng ta nhìn một cách sâu sát hơn, chúng ta có thể tìm thấy điều gì tích cực. Nó có thể không tích cực trong tự nó, nhưng nó có thể giảm thiểu sự nản chí của chúng ta.

Tự tin là quan trọng. Con người có một bộ não và sự quyết tâm diệu kỳ. Phật tử gọi đấy là Phật tánhhạt giống Phật. Thậm chí không thảo luận những việc này, chúng ta cũng có khả năng để đạt được chúng; nếu chúng ta sử dụng sự thông minh của chúng ta với sự nhẫn nại lớn hơn và nổ lực liên tục, ngay cả nếu chúng ta thất bại ba lần đầu tiên, thì vẫn có một khả năng căn bản để đạt đến mục tiêu.

 

HỎI: Có thể không phải trong ba năm, nhưng nhiều vị thầy nói việc thực chứng cứu kính có thể xảy ra ngay lập tức (đốn ngộ), như đối lập với việc phải qua lối tu đường dài (tiệm tu). Xin hãy bình giải.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Việc ấy thỉnh thoảng thật sự xảy ra, nhưng chỉ với nhiều nguyên nhân và điều kiện. Trong một số trường hợp, việc ấy xảy ra tại một trình độ vô hình. Khi những nguyên nhân và điều kiện chín muồi tròn đủ, thế thì nó xảy ra một cách tức thời. Những kinh nghiệm tâm linh phi thường nào đấy thật sự xảy ra.

HỎIKhi tất cả các tôn giáo dạy về từ ái, bi mẫn, và tình huynh đệ, tại sao con người đang chiến đấu nhân danh tôn giáođặc biệt ở lục địa của chúng ta?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Hầu hết mọi trường hợp, các cá nhân đơn giản vui thích gán cho họ. Thí dụ, tôi có thể nói, "tôi là một Phật tử", và được bao hàm với danh xưng ấy. Người ta không phiền với sự thực tập, hướng đạo, hay tư duy hàng ngày; họ không buồn dấn thân sâu hơn trong ý nghĩaPhật Giáo trong trường hợp của tôi coi như là hướng dẫn tôi và hạnh kiểm của tôi. Đấy là cả cung cách suy nghĩ và thái độ cũng như phương tiện để tái tạo những thứ này. Nhưng đôi khi người ta không quan tâm đến nó một cách nghiêm túc. Do thế, nếu tôi không có ý định thay đổi theo lý tưởng Phật Giáo, nhưng tiếp tục sử dụng Đạo Phật cho đấy là "tôn giáo của tôi", thế thì tôi đang lợi dụng Đạo Phật bởi vì tôi cần sức mạnh của tôn giáo.

Tương tự thế, khi bạn nói, "tôi là Ki Tô hữu", bạn nguyện ước Ki Tô Giáo như sự ủng hộ của bạn. Và bạn không bao giờ được tiếp xúc với truyền thống ấy và chẳng bao giờ được thay đổi. Khi một người hoàn toàn si mê, vở mộng hay thù hận lợi dụng tôn giáo, đấy là một thảm họa. Những gì chúng ta cần làm là tựkiểm soát lại mình, tự xem mình là một hành giả và một môn đồ chân thành của truyền thống ấy. Chỉ như thế, chúng ta mới trở thành một con người khác biệt.

Có những hành giả chân thật nào đấy, vì si mê và thiếu sự tiếp xúc, chỉ tin tưởng trong tôn giáo của họ và xem những truyền thống tôn giáo khác là sai. Trong một số trường hợp, đấy là kết quả của giáo lý hay sự giảng dạy, nhưng thường là qua sự thiếu tiếp xúc, thiếu sự tỉnh thức và sự thấu hiểu thật sự của giá trị của truyền thống khác. Một khi chúng ta nhận ra rằng có những người tuyệt vời trong Ki Tô Giáo, Hồi Giáochúng ta tự động phát triển một sự cảm kích đối với truyền thống của họ.

Tín đồ của mỗi tôn giáo nên kiểm tra lại chính mình, xem ta có là những môn đồ chân thật hay không, và truyền thống của mình có đang được thực hành một cách chân thành hay không. Sự giao tiếp hay trao đổiliên tục với những tôn giáo khác là một yêu cầu. Sáng nay tại Hội Nghị Tôn Giáo Thế Giới lần thứ bảy ở Delhi, tôi đã đề cập rằng nhằm để phát triển một sự hòa hiệp chân thành, phải liên tục có những cuộc gặp gở trước nhất trong những lãnh đạo, thứ hai là trong những học giả và thứ ba là trong những người nào có những kinh nghiệm sâu sắc. Các cuộc gặp gở giữa những người này là cần yếu. Một khi chúng ta biết những giá trị sâu sắc của nhau và khả năng của tiêu cực trong tâm thức con người, một khi chúng ta biết nhau, thì điều ấy rất lợi ích.

HỎITừ bi có thể được phát sinh hay phát triển như thế nào trong đời sống của chúng ta và nó có thể được thực hành như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Qua quán (thiền phân tích) cũng như chỉ (thiền tập trung). Thiền quán liên hệ đến việc thẩm tra liên tục giá trị của từ bi. Một khi chúng ta trở thành một con người từ bi hơn, chúng ta có một lòng tự tin thật sự. Chúng ta trở nên một con người tĩnh lặng hơn và hạnh phúc hơn, ít sợ hãi hơn và vững vàng hơn; chúng ta trở nên cởi mở hơn và giao tiếp tốt đẹp hơn với những người khác; chúng ta có nhiều bạn bè hơn và nhiều nụ mĩm cười hơn. Về mặt khác, hãy thẩm tra thù hận - giá trị của nó là gì?

Thù hận phá hủy hạnh phúc của chúng tahạnh phúc của gia đình chúng ta cũng như hạnh phúc ở trình độquốc gia và quốc tế. Nếu chúng ta ở trong một cuộc ẩn tu ba năm và chúng ta thiền tập về thù hận, chúng ta sẽ không bao giờ trải nghiệm tĩnh lặng, chúng ta sẽ luôn luôn cẩm thấy không thoải mái và cuối cùngchúng ta sẽ đánh mất sự ngon miệng, mất ngủ, và đánh mất đời sống của chúng ta. Đấy là những gì thù hận tác động. Do vậy, bạn thấy, giống như một nhà khoa học, chúng ta phải cố gắng để thẩm tra những khía cạnh tích cực và tiêu cực của những thứ này một cách liên tục. Hãy cố gắng để loại bỏ những khía cạnh tiêu cực và thúc đẩy hay sản sinh những phẩm chất tích cực qua phân tích.

Như trong những vấn đề vật chất chúng ta duy trì những khía cạnh tích cực nào đó và loại bỏ những thứ khác, việc ấy cũng vậy đối với tâm thức. Những tâm thức nào đem đến cho chúng ta hạnh phúc, tĩnh lặng và sức mạnh nội tại và nhiều bạn bè hơn là tích cực. Những tâm thức nào cuối cùng phá hoại những thứ này là tiêu cựcVì vậy hãy phân tích những thứ này. Một khi chúng ta đạt được một loại tin tưởng nào đấy và hoàn toàn xác định, qua thiền phân tích, thận trọng về nó trong một thời gian ngắn. Nếu là một người tín ngưỡng, hãy trì chú hay niệm Phật. Đấy là phương pháp - một loại thiền phân tích nào đấy, rồi vào lúc cuối, thiền tập trung. Khi năng lực của sự vững vàng ấy bị giảm thiểu, hãy đi vào thực tập thiền phân tích lại một lần nữa.

HỎINếu người ta ở trong một nổi thống khổ lớn và nhận ra nó như tác động của nghiệp quá khứ, nhưng không chịu nổi đớn đau, người ta phải làm thế nào? Cầu nguyện có giúp ích gì không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Theo một số truyền thống như Đạo Phật, sám hối những hành động tiêu cực là một phương phápPhật Giáo Mật Thừa Tây Tạng đề xuất việc trì niệm một số mật ngôn, làm một hình tượng nào đấy, và nhiều tôn giáo có sự thực hành bố thí. Bổ sung thêm thì người ta có thể cầu nguyện.

HỎICó thể hay thích hợp để biểu lộ lòng từ bi đến ai đấy người tiếp tục làm tổn hại hay làm tổn thươngchúng ta không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Ô vâng! Điều ấy là quan trọng nhất! Kẻ thù hay những người khác đang cố gắnglàm tổn hại hay đang làm tổn hại chúng ta - mặc dù thái độ người ấy đối với chúng ta là tiêu cực - rốt cuộccũng là một con người và cũng có quyền để vượt thắng khổ đau và đạt đến hạnh phúc. Trên căn bản ấy, chúng ta phải trau dồi từ bi đối với con người ấy. Điều đó không có nghĩa là chúng ta chính đáng cúi lạy trước mặt kẻ thù. Có những lý do khác nhau - những lý do đủ để cảm nhận từ bi, và cũng như, trong một vài trường hợplý do đủ để đối mặt với kẻ thù. Đây là hai thứ khác biệt.

HỎITại sao chúng ta phải cố gắng để loại trừ khổ đau? Không phải nó là một bộ phận căn bản của đời sống cũng như hạnh phúc chứ?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Nếu bạn thỏa mãn với đời sống hàng ngày với tất cả những khổ đau của nó, thế thì quá tốt. Bạn không phải lo lắng hay thực hiện nổ lực nào.

HỎIXin Đức Thánh Thiện hãy diễn tả cuộc viếng thăm của ngài đến chương trình Baba Amte? Chúng tacó thể học hỏi gì từ thực tế hình thức Baba về từ bi?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MATừ bi thực tiển - tôi tin rằng đấy là một cung cách thích đáng để phát triển Ấn Độ. Chỉ có một ít công trình kỷ nghệ gần thành phố là không đủ. Dĩnhiên, điều ấy tốt và cần thiết và là một bộ phận của sự phát triển nhưng sự chuyển hóa và thay đổi Ấn Độ phải đến qua những việc làm của mọi người như Baba Amte - việc làm được hoàn thành tại cấp độ của những người thường dân. Tôi đặc biệt ấn tượng với khu vực mới. Tôi nghe nói rằng trước đây nó chỉ là một trổng rỗng, không người ở. Bây giờ nó đã được chuyển hóa thành một ngôi làng nhỏ đầy tâm linh và niềm tin con người. Khi tôi ở đấy, một bệnh nhân chỉ có hai ngón tay đang sử dụng búa rất năng động. Tôi nghĩ bởi vì tôi ở đấy, nên năng lực của ông có vẻ mạnh hơn. Tôi hơi lo ngại rằng cây búa của ông có thể đánh trúng tay ông. Nơi ấy đầy sinh khí và con người không có cảm giác hạ liệt, chỉ có một cảm nhận bình đẳngChúng tôi đã bắt tay nhau mà không có chút do dự nào. Điều ấy hoàn toàn kỳ diệu, rất đẹp. Tôi thật sự rất ấn tượng.

HỎITại sao chúng ta đến thế giới này?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MATự nhiên là tự nhiên. Không có câu trả lời.

HỎINgài nói rằng sự phát triển động cơ thích đáng là nhân tố chìa khóa. Chúng ta phát triển động cơ ấy như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi nghĩ là tôi đã giải thích rồi - qua việc rèn luyện tâm thức, qua phân tích trên những kinh nghiệm quá khứ của chúng ta, thẩm tra những kinh nghiệm của chính mình cũng như của những người khác, như Thánh Gandhi, hay Baba Amte. Khi tôi gặp Baba Amte, mặc dù điều kiện thân thểcủa ông khó khăn, ông có nụ cười trên môi, ông có một đời sống trọn vẹn, tràn đầy tâm linh rực rở. Đấy là kết quả của từ bi và tự tin. Những người như Hitler hay Mao cũng có năng lực kỳ diệu như vậy, nhưng họ đầy nghi ngờ và thù hận. Tôi nghĩ Mao là một người khôn ngoan - đầy tự tin - nhưng nghi ngờ ngay cả những đồng chí thân cận của ông. Một khi có sự nghi ngờ và thù hận như vậy, người ấy không thể hạnh phúc. Do thế, từ bi là quan trọng bởi vì tất cả chúng ta muốn hạnh phúc trong cuộc sống.

HỎIPhương pháp tốt nhất để giảm thiểu dân số là gì? Triết lý Phật Giáo có một vai trò nào không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MADĩ nhiên, là nhiều tăng ni hơn! Tôi gọi đấy là sự kiểm soát sinh sản bất bạo động. Điều ấy là cần thiết.

HỎIDưới cặp mắt của ngài trong lần đầu tiên viếng thăm Jerusalem, thông điệp của ngài trong mối quan hệ liên tôn là gì?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Một vài năm trước đây tôi đã bắt đầu một sự thực tập mà tôi xem là một bước để tiến tới việc thiết lập hòa hiệp giữa những tôn giáo: một người hành hương đến những thánh địa với một nhóm người từ những tôn giáo khác nhau. Tất cả chúng tôi tập họp lại và cầu nguyện với nhau trong im lặng, và đấy là một kinh nghiệm thật đẹp. Tôi đã bắt đầu với Sanarth - Lộc UyểnNăm ngoái ở Trivandrum[1], ở Kerala, tôi đã có cơ hội để thăm viếng một đền thờ Hổi Giáo, một thánh đường, và một đền thờ Ganesh. Tôi đã thấy một bức tượng Ganesh bằng bạc. Tôi nghĩ Ganesh có một cái bụng rất dễ thương; sau lần thăm viếng ấy, tôi nghĩ tôi nên cúng một số tiền, nhưng tôi đã không làm thế. Thế nào đi nữa, tôi yêu mến Ganesh ấy. Tại đền thờ Hổi Giáo lần đầu tiên tôi có cơ hội cầu nguyện chung với những huynh đệ Hồi Giáo. Điều này tôi thật sự cảm thấy là một phương pháp đầy năng lực để giao tiếp với những người từ những tôn giáo khác nhau. Tôi đã thấy Jerusalem nhiều năm về trước, sau lần ấy tôi rất nhiệt tâm để đến những thánh địa như Jerusalem.

Mới đây tôi đã thăm Lourdes ở Pháp - nơi Đức Mẹ Mary đã xuất hiện. Thật là kỳ diệu. Tôi không phải là một Ki Tô hữu, tôi là một Phật tử. Và trong cách ấy tôi là một người không tín ngưỡng. Tôi không tin ở Thượng Đế. Những Phật tử chúng tôi không chấp nhận một đấng tạo hóa. Tuy nhiên, tôi tôn trọng sâu xavà cảm kích truyền thống Ki Tô Giáo và tất cả những tôn giáo khác. Do thế, khi tôi ở đấy, tôi cảm thấy toại nguyện sâu xa. Điều ấy hoàn toàn kỳ diệuNếu có thể, tôi cũng sẽ đến Mecca, nhưng tôi không biết khi nào. Tôi đang hướng đến việc đi tới Jerusalem với một nhóm người thuộc những tôn giáo khác nhau.

HỎINếu tất cả chúng ta là những con người, điều gì khác biệt giữa tôi và ngài?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi nghĩ có một sự khác biệt lớn lao. Bạn là bạn và tôi là tôi!

Modern School, Barakhamba, 1994

Nguyên tác: trích từ chương Compassion and Nonviolence

của quyển Live in a Better Way

Ẩn Tâm Lộ - 2012 

Đức Dalai Lama nói về Phật giáo ứng dụng - Tuệ Uyển dịch


[1] Thiruvananthapuram [t̪iruʋən̪ɨn̪t̪əpurəm] (trợ giúp·chi tiết) (tiếng Malayalam: തിരുവനന്തപുരം Tiruvanantapura), cũng gọi là Trivandrum, là thủ phủ bang Kerala và quận Thiruvananthapuram của Ấn Độ. Thành phố này nằm ở bờ biển phía tây của Ấn Độ, gần cực nam của đại lục. Thành phố này được Mahatma Gandhi gọi là "thành phố thường xanh của Ấn Độ", đây là thành phố có địa hình đặc trưng của đồi thấp ven biển và các thung lũng thương mại.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/01/2021(Xem: 14918)
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Với một nước nông nghiệp như nước ta, hình ảnh con trâu nặng nề lầm lũi, kềnh càng cục mịch luôn gắn bó với những cánh đồng thửa ruộng, thân thiết với bao người nông dân chân lấm tay bùn, và gần gũi với lũ trẻ mục đồng thường nghêu ngao bài hát quen thuộc “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!”… Không chỉ như thế, trâu cũng đã từng gắn bó với cuộc đời một vài danh nhân lịch sử như Đinh Bộ Lĩnh, Đào Duy Từ… Đối với nền văn học nước nhà, con trâu còn có cái công rất lớn trong việc làm phong phú ngôn ngữ, nhất là trong ca dao- đồng dao-tục ngữ.
01/01/2021(Xem: 11415)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12255)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12721)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11703)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11843)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12545)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 12022)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11595)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 10447)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.