Thiên Tông tại Cuba

03/12/201602:13(Xem: 8322)
Thiên Tông tại Cuba

THIỀN TÔNG TẠI CUBA 
Nguyên Giác

 

La Habana zen dojo
La Habana zen dojo

Cộng đồng Phật giáo chỉ là một nhóm thiểu số tại Cuba. Dù vậy, họ vẫn đang có những bước đi lặng lẽ thơ mộng và trang nghiêmtại đảo quốc xinh đẹp này. Và cũng kỳ lạ, Omar Perez, một nhà thơ và là một nhạc sĩ nổi tiếng ở Cuba – con trai của lãnh tụ du kích  Che Guevara – đã trở thành một tu sĩ Thiền Tông.

Theo thống kê năm 2010, Pew Forum ước tính rằng 65% cư dân Cuba theo đạo Thiên Chúa Giáo (60% Công giáo La Mã, tức là khoảng 6.9 triệu người trong năm 2016, trong khi 5% theo Đạo Tin Lành Phúc Âm, tức là khoảng 575,000 người vào năm 2016), với 23% không theo tôn giáo nào, 17% theo đạo bản xứ (như tínngưỡng Santería), phần còn lại 0.4% theo các tôn giáo khác, kể cả Do Thái GiáoHồi Giáo, Bahai… Phật tử được ước tính là chưa tới 0.1% dân số.

dojo zen
Hình ảnh mặt tiền một ngôi thiền đường tại Cuba

Cuba chính thức là nhà nước thế tục. Năm 1992, nhà nước Cuba  sửa Hiến pháp, cắt bỏ câu tuyên bố nhà nước vô thần, và tôn giáođược cởi mở hơn.

Theo bài viết “Zen in Cuba” (Thiền Tông tại Cuba) trên trang Zen Forum International ngày 4 tháng 9/2012, tác giả Ed Blanco kể lại theo lời một người Cuba đã tập hợp được một nhóm tu học tại Cuba. Tuy nhiên, sau khi anh này rời Cuba, tăng thân đó tan rã. Việc này dễ hiểu, vì tụ tập đông người ở Cuba lúc nào cũng bị quan sát.

Người kể được Blanco gọi tên tắt là M.

Nhóm tu học khởi sự từ năm 1990. Đó vẫn là một thời kỳ bình an ở Cuba, trong khi bên ngoài, thế giới các nước xã hội chủ nghĩa đầy những biến động.

Nhóm tu học này lúc đầu không có thầy hướng dẫn, chỉ học qua sách, và ngồi theo phương pháp Thiền Tào ĐộngNhật Bản (Soto Zen).

Zazen au dojo de Montpellier
Một buổi tọa thiền tại thiền đường Montpellier

Trong vài trường hợp, họ thực hiện các thiền thất (sesshin = tiếp tâm, một khóa thiền kéo dài nhiều ngày, trong đó rất nhiều giờ ngồi thiền) dài 15 ngày trong hầm nhà. Không có tọa cụ hay nệm gì hết, họ ngồi trên các viên gạch phủ mền. Họ đi xe đạp tới, hay đi bộ tới, bởi vì xe buýt lúc đó có khi không chạy. Không có đèn cầy, không có hương trầm, chỉ có trà và ăn cơm với rau nhẹ nhàng.

Thế rồi, có người đề nghị họ mời một Thiền sư họ thấy tên trong một tạp chí. M. nói rằng người đó là Stephan, một Thiền sư người Pháp.

 Họ viết thư gửi tới Stephan, tình cờ lúc đó vị thầy này đang ở Argentina hướng dẫn thiền thất tiếp tâmThư ký vị này ở Pháp mới gửi fax sang Argentina và từ đây vị thầy này gọi tới nhóm thiền tự học ở Cuba. Nhóm tu học này lúng túng giải thích rằng họ cần một vị thầy hướng dẫn, nhưng chỗ ăn, chỗ ở tại Cuba rất mực là gian nan. Khi thầy Stephan nói đồng ý tới,  nhóm tu học bừng lên vui mừng.

Từ đó, thầy Stephan cung cấp chi phí linh tinh. Nến và hương, và cả trà nữa. Các bạn thiền từ Châu Âu và Nam Mỹ gửi vật liệu tới, và nhóm tu học khâu thành các tấm nệm và tọa cụ, và thấy như mình đang lên cõi trời. Có thêm nhiều khóa thiền thất, và các chuyến đi hàng năm của thầy Stephan, và các sư, ni của thầy này gửi tới.

Sau đó là quy ythọ giới. Và truyền giới xuất gia (ordination). Lần đầu, áo tràng (kesa) được nhìn thấy tại Cuba. Các khách phương xa tới, kinh ngạc vì thấy giao thông và lương thực ở Cuba quá sức gian nan trong đời sống hàng ngày của dân. Công an quan sát, nhưng vẫn thả lỏng.

Khi chuẩn bị khóa thiền thất đầu tiên với thầy Stephan, có hơn 1,000 người ghi danh từ thành phố và từ các phần khác trên đảo quốc. Nhóm tu học thuê 2 căn nhà ven biển, thu mua thực phẩm. Công an tới hỏi. Zen là cái gì? Nhóm tu học nói, cũng khó trả lời. Có phải tôn giáo không? Theo ý nghĩa về tôn giáo phương tây, không phải là tôn giáo đâu. Quý vị có thờ Thượng Đế Tối Cao không? Không… và hỏi/đáp như thế dài dòng, rồi tham khảo, rồi hỏi/đáp.

Winter Camp 2016
Poster ghi danh khoá tu mùa Đông 2016

Thế rồi, công an quyết định rằng, thiền thất không thể dài 10 ngày, và sẽ không có chuyện 1,000 người tụ họp nơi đây. Theo luật Cuba, không thể tụ tập quá 3 người, nếu không có giấy cấp từ Ủy Ban Bảo Vệ Cách Mạngcủa khu phố. Quyết định là, chỉ cho thành viên nguyên thủy của nhóm tu học với vị thầy và các nhà sư tham dự khóa này. CHẤM HẾT. Nghĩa là, không ý kiến gì khác.

M. lúc đó lạnh người. Thầy Stephan bước ra. Blanco nghi ngờ rằng có thể M. đọc sai tên vị thầy này, vì không phải người Cuba nào cũng thông thạotiếng Pháp đủ, trong khi lại phải phiên âm giữa 2 ngôn ngữ, và có thể là Estephan. Thế rồi Manuelito (có vẻ như tác giả Blanco quên viết tắt, thế nên lộ ra tên gốc) nói rằng anh ta sẵn sàng thương lượng với ông Bộ Trưởng, một người bạn thời thơ ấu của anh, đó là cách phải dịu giọng và nài nỉ khi bạn không nằm trong thượng tầng quyền lực cách mạng.

Thầy Stephan nói, KHÔNG. Chúng ta sẽ có khóa 10 ngày thiền thất tiếp tâm  ngay cả khi tôi ngồi một  mình. Zen là Tự Do, và không có thể là dây cương ngựa. Bạn muốn biết Zen là gì, Zen chính là tự do bên trong và bên ngoài.

M. lạnh người. Người ta có thể nói chữ Hòa bình, nhưng không thể nói chữ Tự do ở Cuba. Thế rồi, nhờ một cơ duyên, M. cùng vợ rời Cuba.  Đó là chuyện gần 2 thập niên trước.

Bây giờ đã khác rồi. Dòng Thiền theo truyền thống Nhật Bản của Thiền sư Deshimaru đã chính thức mở một thiền đường có tu học hàng ngày ở La Habana, thủ đô Cuba. Thiền đường này có các thiền thất thường xuyêngiữ gìnbởi tăng thân Kosen Sangha.(1)

Một điểm kỳ lạ của lịch sử: Omar Pérez (sinh năm 1964) -- con trai của cố lãnh tụ Ernesto “Che” Guevara, người đã  cùng Fidel Castro làm cuộc cách mạng 1959 và xây dựng lên Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Cuba – đã trở thành một tu sĩ Thiền Tông. (2)

Omar Pérez López
Omar Pérez López

Là nhà thơ, nhà dịch thuật, Omar Pérez sinh trưởng ở Havana. Tốt nghiệp bằng cử nhân Anh văn ở University of Havana và học tiếng Ý ở Universitá per Straniere di Siena. Từng làm phóng viên ở El Caimán Barbudo, làm biên tập viên cho tạp chí La naranja dulce. Biên tập tạp chí thi ca Mantis từ 1994 tới 1996.

Thọ giới tu sĩ Thiền Tông (Ordained as a Zen Buddhist monk), Pérez sáng tácthơ trong đó gắn liền ngôn ngữThiền Tông, và kinh nghiệm siêu vượt văn hóa và chính trị. Hiện cư ngụ ở Havana. Ông được trao nhiều giải thi ca.

Trên tạp chí Jacket Magazine, nhà nghiên cứu Kristin Dykstra viết về nhà thơ tu sĩ Thiền Tông Omar Perez:

“Nhiều bài thơ từ tuyển tập năm 1999 nói về khả thể của giác ngộ và về các bước tiến và trình tự Thiền định. Bài thơ “Kosen” là để cúng dường vị thầy quan trọng đối với Pérez, và Perez đã nói với Kent Johnson, “Tôi tin rằng sự kiện Thiền Tông vào Cuba, cùng với Thiền sư Kosen Thibaut, cũng quan trọng ngang tầm với sự kiện Martí ra đời, ngang tầm với  cuộc cách mạng 1959.”…” (3)

Cần ghi thêm về Marti: đó là Jose Julian Marti Perez (1853-1895), lãnh đạo phong trào độc lập Cuba, khởi nghĩa  chống thực dân Tây Ban Nha.

Cách mạng 1959 là cuộc cách mạng do Fidel Castro và Che Guevara lãnh đạo, lật đổ nhà độc tài Batista.

Có phải Thiền Tông tự thân đã mang sức mạnh cách mạng?

Đó là những bước đi kỳ lạ nhất của lịch sửThiền Tông từ Nhật tới Pháp quốc, rồi tới Cuba. Và rồi những khóa thiền thất ngồi dưới hầm nhà. Và rồi nhà thơ nổi tiếng Omar Perez, con trai của lãnh tụ du kích Che Guevara, trở thành một nhà sư Thiền Tông, và nhà thơ đánh giá rằng sự kiện Thiền Tông tới Cuba cũng là một cuộc cách mạngvô cùng lớn lao.

GHI CHÚ:

(1) http://www.zen-deshimaru.com/en/dojos/la-habana-zen-dojo

(2)  https://www.poetryfoundation.org/poems-and-poets/poets/detail/omar-perez#poet  

(3)  Many poems from the 1999 collection dwell on the possibility of enlightenment and on processes and stages of meditation. The poem “Kosen” is dedicated to a master important to Pérez, who tells Kent Johnson, “I believe the arrival of Zen Buddhism in Cuba, with master Kosen Thibaut, to be as important as Martí’s birth or the 1959 revolution.” (http://jacketmagazine.com/35/perez-overview.shtml)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14321)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20277)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17450)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14979)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16766)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12786)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11673)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12157)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8084)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9157)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.