Nụ Cười Chay

03/09/201620:23(Xem: 10108)
Nụ Cười Chay

NỤ CƯỜI CHAY

buddha-cuoi-chay

 

 

CƯỜI, LÀ GÌ? NÊN CHĂNG?

Người ta biết đến giá trị của cái Có nhưng không mấy ai biết được cái Dụng của cái Không.

Trong việc xây dựng một thế giới tốt đẹp, con người đã thể hiện những năng lực của bàn tay, khối óc và con tim … , nhưng ít ai biết tới một thứ đã tác động rất lớn lao và sâu xa đến bộ mặt thật của nhân loại, đó là Nụ Cười.

Thật vậy, chúng ta cứ tưởng tượng nếu thiếu vắng nụ cười thì thế giới con người sẽ như thế nào? Và sẽ đi về đâu?

Triết gia Bain (người Anh) đã phát biểu:

- Cười là đối ngược lại sự nghiêm trang. Hàng ngày đứng trước cái thế giới trang trọng và thúc bách của công việc, của bổn phận, chúng ta như bị trói buộc một cách căng thẳng vào mọi sự. Nếu thình lình thoát khỏi những ràng buộc ấy, (bằng tiếng cười) lập tức chúng ta cảm thấy vui sướng, phấn khởi, tình trạng này tương tự như bọn học sinh trong giờ ra chơi.

Đúng thế, cuộc sống càng gấp rút, bươn chải, thì tâm trí chúng ta càng khốn khổ vì bị trói buộc vào công việc, và luôn luôn tỏ ra căng thẳng. Nhất là trong thời đại công nghiệp - con người sản xuất nhiều của cải hơn, nhiều tiện nghi đến mức thừa thãi, nhưng tiếc thay con người hôm nay lại có quá ít tiếng cười. Một bức ảnh gần đây của một tay săn ảnh người Mỹ đã cho thấy, trên ảnh: từng đoàn người hối hả đi làm việc với khuôn mặt cứng đờ, ủ dột, lo âu mà không ai có một nụ cười. Ngay cả khi người ta đi chơi cũng vậy, (hoặc ngồi chuyện trò trong quán cà phê chẳng hạn) luôn luôn hối hả, tất bật, - không một ai có thể chường ra một bộ mặt tươi cười, khoan khoái.

Nụ cười quả cần thiết cho cuộc sống - nếu không muốn nói là vô cùng cần thiết, nếu chúng ta không muốn dẫy chết trong một nền văn minh sắp sửa sụp đổ bất kỳ lúc nào vì chiến tranh hạch tâm hoặc do sự hủy hoại môi sinh do con người tạo ra.

          Nguyễn Công Trứ đã nói:

Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe

Đời có vui sao chẳng cười khì?

Khóc thì ai cũng biết khóc, dường như bản năng con người là dễ dàng khóc, nhưng kiếp người này mấy ai sẵn nụ cười trên môi?

Đức Phật Thích Ca bảo: “Nước mắt chúng sinh chứa đầy hơn bốn biển”. Đó không phải là lời thở than mà là một nhận xét trung thực. Trong cái đại dương đầy nước mắt nầy, ta dẫu ráng buông một nụ cười thì cũng khó khăn - họa may chỉ là: cười xã giao, cười trừ, cười khan, cười gượng, cười nhạo, cười chua chát, cười đau khổ, cười tức tưởi, cười rầu rĩ, cười căm hận, cười đắng nghét, cười “tiếng khóc khô không lệ” (Xuân Diệu), cười mếu máo, cười ra nước mắt, ...

Các bậc cha mẹ cho đến nhà trường, xã hội, đều dạy cho chúng ta rất nhiều điều, nhưng chưa hề “dạy cười”. Người lớn khuyên “hãy làm người cho tốt” nghĩa là phải có những đức tính tối thiểu nào đó, nhưng quên rằng nếu không biết cười cho ra hồn thì … ta chỉ là “nửa người nửa ngợm nửa đười ươi” mà thôi. Khó mà làm nên một Con Người đầy đủ tính nhân văn và trí tuệ lắm. Vì sao?

Họ, kẻ không biết cười thì bộ mặt chằm quặm, căng thẳng, luôn luôn sống vật vờ, chẳng biết trôi về đâu. Không sống cũng không chết, họ chỉ hối hả trôi qua một chặng sanh tử “buồn tênh cát bụi” cho đến khi vô quan tài. Có thể họ là những siêu nhân, Batman hay Người Nhện hoặc một đại ca “chuyên đeo kính thầy bói” trong những bộ phim xã hội đen, hay những con người vắng mặt trên cõi sống rộn rã, tưng bừng này! Cứ ngỡ rằng, cười là chuyện “thiếu nghiêm túc”, mà quên rằng đôi khi lắm kẻ học suốt đời vẫn không biết cười là gì!

E rằng, điều này chúng ta buộc phải “tự học” mà thôi, không có con đường nào khác! Có sách dạy nấu ăn, dạy chính trị, kinh doanh, dạy đánh tennis, dạy yêu đương … khắp mọi đề tài, nhưng sách dạy cười thì ít ỏi lắm thay.

Nụ cười cũng cần thiết như là thực phẩm, tiện nghi vậy. Thiếu cơm gạo, thơ ca với lại cả … biểu diễn người đẹp chân dài, thì con người sẽ ốm yếu, còi cọc. Chắc chắn rồi. Nhưng, thiếu nụ cười thì con người không những không thể lớn lên nổi, mà còn chết dần mòn trong ao tù cuộc sống và trong lao ngục tiện nghi vật chất mà thôi. Cụ Nguyễn Văn Vĩnh hồi đầu thế kỷ 20, vốn là một nhà nho “khắc kỷ, thận độc” (tiết chế bản thân và cẩn thận khi ở một mình) luôn luôn đạo mạo nên cụ quen đè nén tâm lý, không hay cười, nhưng không sao. Tiếc rằng cụ đã viết báo đả phá và miệt thị “cái thói hay cười của người An Nam”, hãy xem là quá khứ nên quên.

 

NGƯỜI XƯA ĐÃ CƯỜI …

Ngày xưa ở Trung hoa có ba vị thiền sư, gọi là ba “Ông Phật Tếu”, bởi vì họ không bao giờ làm gì cả, ngoài việc ... Cười!

Họ vừa cười vui, từ làng xóm này tới chợ búa khác. Mọi người bao vây xung quanh ba ông sư ấy, ai nấy ngừng việc cày cấy, mua bán, quên mọi sự đời để cười theo, đôi khi quên cả mưu sinh, làm quan, lên chức!

Một kẻ kính tín yêu cầu: “Hãy thuyết pháp cho đệ tử!”, thì ba vị Phật Tếu cười ầm: “Có gì để thuyết? Đơn giản tụi chúng tôi chỉ biết cười và tiếng cười sẽ làm cho cuộc sống trở nên sâu thẳm, thanh khiết và sáng sủa hơn”.

Chợ búa trở nên vui nhộn như buổi tấu hài, như đại nhạc hội, như rạp xiếc. Không còn ai quan tâm lời lỗ, mọi cơ quan đều trở nên như bữa tiệc.

Người ta chỉ sống với âu lo, sợ hãi … nên ít có niềm vui nội tâm, làm cho khuôn mặt ai nấy đều ủ dột, cáu gắt, u buồn, bất an. Làm sao họ có thể buông ra một nụ cười vô tư, trong sáng, hoan lạc? Vậy nên, khi có cơ hội để quên lãng thế sự vặt vãnh, những cảnh đời tủn mủn, thì mọi người đều sướng thích, khoái hoạt và trong giây lát, đã bật lên những tiếng cười rộn rã. Rồi sau những tràng cười dài, tâm tư sẽ nhen nhúm đôi chút hy vọng, vài ba mơ ước nhỏ bé để tiếp tục sống khỏe, sống hạnh phúc.

Từ đó, người ta sực nhớ ra rằng, nụ cười cũng cần thiết hơn là cơm áo, bạc tiền, quyền lợi, danh vọng vậy! Hoặc đôi khi còn quan trọng, cần thiết, vượt hơn những thứ kia nữa!

Một hôm, một trong ba Ông Phật Tếu qua đời, mọi người dân bảo nhau:

- Bây giờ một “ngài” đã ngủm, chắc hai “ngài” còn lại mần chi mà cười nổi được!

Nhưng khi dân làng tới nơi, họ thấy hai vị Phật còn lại vẫn đang nhảy nhót, cười cợt tỉnh bơ. Vài người nói:

- Một người bạn vừa qua đời, mà các vị lại ca hát cười đùa như vậy?

Hai vị Phật Tếu cười:

- Cùng cười với nhau suốt cả cuộc đời, tụi tui phải tiếp tục cười để chia tay nhau bên bờ sinh tử chứ!

Một triết nhân phương Đông bảo: “Tiếng cười là vĩnh cửu như cuộc sống vậy. Các diễn viên và sân khấu có thể thay đổi. Nhưng vở diễn vẫn tiếp tục mãi. Cuộc sống là bất diệt, miên trường, không bao giờ ngừng nghỉ. Như sóng biển lúc thì trào dâng hoặc vỗ lao xao, lúc chìm lắng, thinh lặng, nhưng đại dương thì bao giờ cũng vẫn tồn tại. Bạn sống rồi bạn chết. Thiên hạ sống rồi thiên hạ qua đi, nhưng tiếng cười thì vẫn còn mãi mãi, luôn luôn là nhu cầu quan trọng của nhân gian.”

Khi mọi người đặt thi thể người quá cố lên giàn thiêu, thì một hiện tượng xảy ra: Trước khi tắt hơi, Ông Phật Tếu vừa quá cố kia giấu sẵn rất nhiều pháo hoa trong mình, cho nên khi gặp ngọn lửa, pháo hoa nổ tung và phọt lên không gian nhưng chùm bông đủ màu. Toàn thể không gian tràn ngập pháo hoa, nổ tung và phun ra vô số chùm bông lòe loẹt. Và cả làng bật nên tiếng cười, Cười chết bỏ, cười liên tục, cười hoài …

Đạo Phật dạy: Không có một cái gọi là Cái Chết. Cuộc sống vốn là một chuỗi sinh diệt liên tục không bao giờ ngưng nghỉ. Bởi vì một hiện tượng này kết thúc thì nẩy ra một hiện tượng khác, mới mẻ, sinh động hơn. Cho nên chúng ta có thể bảo rằng, cuộc sống không có điểm dừng mà luôn luôn bắt đầu dưới dạng thức này hoặc dạng thức khác.” (Tài liệu lưu trữ của Huỳnh Hội)

 

CÓ BAO NHIÊU CHỦNG LOẠI NỤ CƯỜI?

Các nhà khoa học cho rằng, Cười là một trong những hình thức diễn đạt cảm xúc tinh tế nhất của con người. Cười là cách tốt nhất để bộc lộ những trạng thái tình cảm con người chúng ta đang có. Nụ cười không chỉ để bày tỏ sự hài lòng mà còn vì nhiều nguyên nhân tâm lý và tình cảm phức tạp khác. Người ta đã liệt kê ra hàng chục kiểu cười khác nhau: cười mỉm chi, cười khẩy, cười ruồi, cười trừ, cười đểu, cười hết ga, cười xởi lởi, cười cầu tài...

Theo sự tìm hiểu và nhận định tạm thời của chúng tôi, trong vô số loại nụ cười của con người, thì chỉ có HAI loại nụ cười có thể thăng hoa tâm hồn chúng ta: đó là Nụ Cười Chay và Nụ Cười Minh Triết. Ở đây chỉ nói Nụ cười chay mà thôi, trong một cơ duyên khác, chúng tôi sẽ bàn đến Nụ Cười Minh Triết.

 

THẾ NÀO LÀ NỤ CƯỜI CHAY?

Chà, khó quá! Làm sao định nghĩa được từ ngữ Nụ Cười Chay, trong khi hầu hết tất cả chúng ta đều có những cuộc sống cực kỳ mặn? Sống mặn mà muốn nở một nụ cười chay, e rằng chúng ta chỉ trưng bày ra những nụ cười giả trá, không thật, hoặc chỉ là những nụ cười ỡm ờ, giả lả, như cười cầu tài, cười bổ bã, tếu táo cho qua truông qua ải. Cuộc đời có quá nhiều truông đèo hiểm trở cho nên đôi khi nụ cười của chúng ta cũng chỉ là nụ cười ba xạo, ba trợn, hay chăng?

          Thôi đành nhờ cậy vào tài uyên bác của nhà văn Phùng Khánh kiêm nữ tu Trí Hải định nghĩa giúp, đó là … gặp chuyện khó khăn thì xin nhờ cậy sư phụ ra tay chứ còn biết nương tựa vào ai? Đây là quan niệm rất nhân ái về Nụ Cười Chay, của một nữ sỹ kiêm nữ tu:

“... vẫn có những nụ cười rất đẹp đã tô điểm cho cuộc đời ảm đạm, đó là những nụ cười chay.

“Gọi là nụ cười chay, bởi vì nó thật hoàn toàn ... chay, không có một ẩn ý chua xót, mỉa mai, hiểm độc, mà chỉ đơn thuần là nụ cười. Lại nữa, nó không phải trả giá bằng nỗi khổ đau của mình (cười chua chát) hoặc của người khác (cười đắc thắng). Chỉ có những nụ cười như vậy mới xứng đáng được xem là “ánh mặt trời xua đuổi mùa đông ra khỏi nét mặt con người” như Victor Hugo diễn tả. .

 (Phùng Khánh-Trí Hải, “Từ Nguồn Diệu Pháp”  NXB Tôn giáo)

Trong một bài viết của bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc, một vị thầy thuốc kiêm văn sỹ, đã cho biết:

Ngay khi còn ở trong thai mẹ, thai nhi chỉ có việc … ngủ và cười. Y học mới phát hiện gần đây là thai nhi cũng cười. (Thư gởi người bận rộn, trang 195).

Đối với bác sỹ họ Đỗ, thì nụ cười vô cùng cần thiết cho cuộc sống. Người xưa cho rằng, nụ cười bằng mười thang thuốc bổ, nhưng bác sỹ còn đề cao sự quan trọng của nụ cười đến nỗi đã viết nên cuốn sách: “Nụ cười như ngàn thang thuốc bổ”, do nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2002.

Còn các triết gia Ấn độ thì từ lâu đã khẳng định giá trị tất yếu của nụ cười trong cuộc sống mà không cần chứng minh luận lý gì cả, phương pháp truyền đạt trực quan nhưng ra vẻ dứt khoát hơn. Nhà triết gia đương đại Bhagavan Rajneesh nói:

Tiếng cười có năng lực Thiền và năng lực Thuốc.

Tiếng cười chắc chắn làm thay đổi chính hoá chất trong thân tâm của bạn, làm chuyển hoá sóng não của bạn, làm thăng hoa trí tuệ của bạn, bạn trở nên thông minh hơn. Khi tiếng cười xuất hiện, phần tâm trí ngái ngủ bên trong bạn bỗng nhiên bừng tỉnh dậy. Tiếng cười đạt tới phần thâm sâu nhất của bộ não bạn, lay động tới trái tim thầm kín của bạn. Kẻ nào hay cười thì không thể đau tim, không thể tự tử được. (Từ Thuốc đến Thiền, GS Ngô Trung Việt dịch)

 

TẠI SAO BẠN KHÔNG BẮT ĐẦU CƯỜI LÊN?

Con khỉ không biết cười. Các nhà bác học chuyên về động vật tuyên bố: Loài vật dường như không bao giờ biết cười, chúng ta đành tin họ vậy. Chỉ có loài người mới biết cười.

Có kẻ bảo: Một nụ cười không làm mất mát gì cả, nhưng lại ban tặng rất nhiều. Nó làm giàu có những ai đón nhận nó mà không làm nghèo đi người sinh ra nó. Nụ cười nuôi dưỡng hạnh phúc trong gia đình, gầy dựng thiện ý trong làm ăn, và làm lớn mạnh mối tương giao trong tình bạn, mang đến sự thư giãn những khi ta mỏi mệt, niềm hi vọng những khi tuyệt vọng và ánh sáng những khi ta tăm tối trong muộn phiền.

Nụ cười, cũng như tình yêu, là cái không thể mua bán, vay mượn, hay thậm chí mua trả góp dài hạn, hay mượn tạm xài đỡ của người khác. Bởi vì, khi đó, nó chỉ là vật trao đổi bán chác miễn cưỡng và vô nghĩa, chứ không phải là nụ cười đúng nghĩa.

Có những người không bao giờ nở một nụ cười với bạn. Gặp những kẻ khốn khổ như vậy, chúng ta vẫn cứ nên trải lòng mình ra và tặng ngay một nụ cười miễn phí rồi biếu thêm liên tục. Họ là những người dè sẻn của cải và keo kiệt luôn cả nụ cười, vì lẽ đó, họ chính là những người tội nghiệp nhất thế gian - họ cần nụ cười hơn ai hết. Hãy tươi cười với mọi người. Chúng ta chẳng những không mất gì, mà trái lại, sẽ nhận được rất nhiều.

Khi nhà báo Ngọc Anh phỏng vấn nhà văn Lê Đạt nhân giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007:

- Sau từng ấy thăng trầm trong cuộc sống, ở tuổi 79, nhiều người ngạc nhiên khi thấy ông luôn vui vẻ và hài hước?

Nhà thơ Lê Đạt trả lời:

- Nếu không hài hước để sống thì tôi không thể là tôi bây giờ. Làm sao có thể tưởng tượng được mình đang là người tử tế thế này, một buổi sáng thức dậy bỗng nhiên trở thành một thằng hủi. Bạn bè hôm qua tay bắt mặt mừng, hôm nay nhìn thấy mình đi bên này là phải đổi sang vỉa hè bên kia. Kinh khủng lắm!

Vâng, chúng ta hoàn toàn cảm thông với nhà văn Lê Đạt: Chỉ có nụ cười hài hước mới giúp ta trụ vững giữa cuộc sống mà không tỏ ra thù hận bất cứ ai. Nụ cười sẽ làm khô những vết thương tấy mủ và đưa chúng ta tới chân trời khoan dung, khoáng đãng.

Do đó, tất cả giáo lý của mọi nền minh triết Ấn độ đều nhiệt liệt cổ vũ cho nụ cười. Và từ đó, hàng trăm triệu du khách khi ghé thăm đất nước Ấn độ đã vô cùng ngạc nhiên khi chứng kiến giữa cuộc sống nghèo khổ, khó khăn nhưng người dân quê Ấn độ vẫn luôn luôn nở nụ cười trên môi và cả trong ánh mắt. Và trong kho tàng chuyện cổ sau đây:

Theo lời yêu cầu của các đệ tử, một vị đạo sư Ấn độ đã thuật lại các giai đoạn tu tập của mình: Trước hết, ta được Đấng Chí Tôn nắm tay dẫn đến xứ sở của những công tác từ thiện. Ta đã lưu trú ở đây để phục vụ chúng sanh một thời gian.

Tiếp theo, Ngài đưa ta đến chốn đau thương. Tại nơi đây, tâm hồn ta được tẩy rửa hoàn toàn khỏi mọi khổ lụy và hạnh phúc thế gian.

Sau đó Ngài đưa ta đến miền đất cô đơn, nơi ấy mọi giấc mơ nhỏ bé của con người đều bị diệt tận, để ta có thể chảy tan vào chốn tịch liêu, của sự im lặng siêu việt. Khi ấy, bao bí mật sâu kín của Sinh và Tử đều được hé mở rõ rệt.

Nghe tới đây, tất cả các đệ tử liền hỏi:

-Phải chăng sư phụ đã đạt tới giai đoạn cuối cùng trong cuộc tìm kiếm chân lý?

Vị đạo sư bình thản trả lời:

- Đâu dễ dàng đến thế! Một ngày nọ, Đấng Chí Tôn nói: Lần cuối Ta sẽ đưa con đến chốn linh thiêng, sâu thẳm nhất của đền thánh để con được vĩnh viễn ở ngay trong lòng Ta.

Thế là Ngài cùng ta đi tới xứ sở của nụ cười.

 

MẸ THERESA KHUYÊN: HÃY CƯỜI VỚI BẤT CỨ AI

 

          Mẹ Teresa là một phụ nữ nhỏ bé, yếu ớt nhưng bằng những hành động nhân ái phát xuất từ niềm tin chân thật của mình, Mẹ Teresa đã trở thành chỗ nương tựa và là nguồn cảm hứng vô tận cho vô số con người bị bỏ rơi trên hành tinh đầy rẫy bất công và gian trá này.

"Quí vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế, quí vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương.

Mẹ Teresa: "Hãy cười với nhau, ngay cả với kẻ có thù oán với các con mà không cần nhìn vào mắt của họ."

Lần khác, khi bàn về Bí quyết hạnh phúc Mẹ bảo: Hãy trao tặng một nụ cười!

          …

          Và bạn cũng có thể trình bày vô số kiểu cười khác nhau, chủng loại nụ cười khác nhau, chẳng có ai giống ai. Và ngay cả trong một con người cũng luôn luôn ẩn giấu không biết bao nhiêu cung cách nhếch môi để … cười, tùy theo nội tâm  rung động và hoàn cảnh ứng xử của mình.

Miễn sao, đó là nụ cười chay: Nụ cười chỉ thuần tuý … cười. Không ẩn ý, không mưu toan, không ám chỉ bất kỳ ai, bất kỳ điều gì, việc gì. Mà cười và cười mà thôi …

 

          NGUYỄN XUÂN CHIẾN

Ý kiến bạn đọc
03/09/201622:09
Khách
Cuoi lam cho con nguoi song lac quan, tri duoc dau benh. Toi nghi goi bai "cuoi chay" nay den cho nhung nguoi benh ung thu doc de giup ho song yeu minh, yeu doi.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 16767)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14369)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16105)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12096)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 10946)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11527)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7403)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8608)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 7955)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.
14/02/2021(Xem: 10413)
Nhân đọc bài về tuổi già của Đỗ Hồng Ngọc Bác sĩ y khoa, tôi mỉm cười. Mình cũng thuộc tuổi già rồi đấy!! Các bạn mình cũng dùng chữ ACCC= ăn chơi chờ chết vì vượt qua ngưỡng tuổi 70 rồi. Vậy theo BS Ngọc là làm như vậy cũng thực tế đó nhưng có thật là hạnh phúc tuổi già không? Bạn có đủ hết, con cái thì hết lo cho chúng được nữa rồi, chúng tự lo lấy chúng. Tiền bạc thì hết lo được nữa rồi có bấy nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.