Chuyện phóng sinh

23/04/201620:52(Xem: 9884)
Chuyện phóng sinh

Chuyện phóng sinh
phong-sanh

Hàng ngày tôi có thói quen ngồi  tọa thiền và sau đó đi kinh hành. Địa điểm đi kinh hành tuyệt vời và may mắn nhất tôi có được là công viên Nghĩa Đô gần nhà. Ngày thực hành 2 lần, sáng sớm và buổi tối. Thật tuyệt vời vô cùng.

Công viên Nghĩa Đô của Thủ đô Hà Nội ngày nay rất đẹp, rất sạch. Ngày xưa tôi hay đi thiền nhặt rác ở đây nhưng bây giờ người dân đã rất có ý thức và hầu như rác không còn nữa nên tôi “thất nghiệp”. Hơn nữa các nhân viên ở công viên Nghĩa Đô rất hay quét rác. Họ bây giờ còn xuống thuyền và dùng lưới vớt rác, lá cây,… trên mặt hồ. Thật là vui khôn tả.

Tuy nhiên bây giờ lại xuất hiện cảnh một số người dân ngồi câu cá trong hồ mỗi sáng, mỗi chiều. Nhìn thấy cảnh câu cá này tôi rất xót thương cho các bạn cá quá. Tôi luôn cầu nguyện cho các bạn ấy. Tôi cảm thấy thương xót cho sự vô minh của người câu. Hơn thế nữa lại còn không ít người đứng xem có vẻ thích thú.

Mấy hôm nay xuất hiện cả vài người chế ra chiếc vợt lưới và kéo sát bờ để bắt tép. Có cả cảnh chồng đi trước kéo tép, vợ theo sau mang xô để đựng. Xót thương các bạn tép vô cùng. Chỉ biết nguyện cầu cho các bạn ấy siêu về cõi lành hay đổi kiếp được đến cảnh giới tốt hơn. Bởi trong ngày hôm nay thôi, kiếp sống của hàng trăm bạn tép sẽ bị chấm dứt. Tiếc thay họ không biết chuyện này. Có rất nhiều bạn tép đó mất kiếp sống mà bố mẹ, anh chị em không biết. Y như cảnh tai nạn giao thông trong đời sống con người: Mỗi ngày có khoảng 30 người sáng đi làm và tối không được về nhà – chết riêng vì tai nạn giao thông!

Đang đi kinh hành tôi bỗng ngửi thấy mùi tanh. Dừng lại. Nhìn xuống chân và thấy nhiều bạn tép bé xúi đang nhảy dưới chân tôi như cầu cứu. Tôi đứng hẳn lại và cúi xuống nâng từng bạn tép lên và thả các bạn xuống hồ. Nhiều lắm. Các bạn ấy bé xíu, mà trắng tinh khôi. Nhìn các bạn rất đẹp.

Mọi người đi tập thể dục nhìn tôi. Người thì ngạc nhiên, kẻ thì tò mò. Có người cảm thông và hiểu rằng tôi đang đưa các bạn tép về nhà – hồ nước của công viên Nghĩa Đô Hà Nội.

Tôi chợt nghĩ, nếu mình vô tình đi qua mà không phát hiện ra thì những bạn tép này chắc chắn chết trong hôm nay. Chết vì người đi bộ dẫm đạp lên. Chết vì nằm trên nền đường đi không có nước. Chết vì nắng vì khô.

Bỗng nhiên tôi nhớ đến một lần đi tắm biển nghỉ mát ở Thiên Cầm, Hà Tĩnh cách đây có đến chục năm. Khi đó, tôi ngủ dậy vào buổi sáng sớm và đi bộ trên bờ biển. Đột nhiên tôi phát hiện ra một người phụ nữ cứ nhặt những con sò, con ốc, con sứa,… ném xuống biển. Tôi hỏi bà làm gì. Bà bảo phóng sinh. Tôi hỏi nhiều thế này sao mà phóng sinh hết được. Bà cười và bảo tôi “Thế à. Tôi không nghĩ đến chuyện đó. Tôi chỉ biết thấy chúng sinh nguy kịch và sắp chết thì tôi cứu thôi. Thôi không quan tâm cứu được bao nhiêu mạng sống”.

Tôi giật mình bởi người phụ nữ kia đang rất chánh niệm. Làm chỉ để làm. Làm là vì tình thương đích thực. Bà hết sức tập trung và rất bình an khi phóng sinh.

Tôi tiếp tục đi quanh hồ Nghĩa Đô và tìm đến những vũng nước nơi người ta vừa bắt tép đổ vào xô và nước văng ướt một vùng. Tìm nơi đó để xem còn những chú tép nào sót lại để đưa họ về với nhà – hồ nước công viên ngay bên cạnh. Vừa thả họ xuống nước tôi vừa niệm thầm trong đầu:

“Chúng sanh đấy có bấy nhiêu
Lắng tay nghe lấy những điều dạy răn
Các người trước lòng trần, tục lắm
Nên kiếp này chìm đắm sông mê.
Bấy lâu chẳng biết tu trì
Gây bao tội ác lại về mình mang.
Sống đọa đày chết thường đau khổ
Lông, da, sừng có đỡ được đâu.
Dù là bay trước lặn sau
Lưới dây, tên bắn, lưỡi câu thả mồi.
Tát cạn bắt cùng hơi hun độc
Lúc đó dù kêu khóc ai thương.
Nằm trên chốc thớt lạ thường
Hồn còn phảng phất nấu rang xong rồi.
Muôn phần chết nay ngươi cầm chắc
May sao nhờ các bậc thiện nhân.
Cứu cho ngươi được thoát thân
Đến đây lại được nhờ ân Pháp mầu.
Vậy ngươi kiếp hồi đầu quy Phật
Cùng dốc lòng quy Pháp quy Tăng”.

Tôi đọc niệm những câu này như một cái máy. Bởi bài này chúng tôi đọc rất rất nhiều lần và nhiều năm nay mỗi khi đi mua cá tôm, ốc, lươn, chim,…. thả phóng sinh. Tôi cũng quy y Tam Bảo cho các quý vị đó. Rồi lại thầm niệm tiếp:

“Quy y rồi tội chướng sạch băng
Trí khôn sáng tỏ tưng bừng khắp nơi
Phát tâm tu, sau rồi được hưởng
Về Phương Tây vui sướng đời đời
Lên tòa sen hưởng thảnh thơi
Không hề luân chuyển yên vui tháng ngày.
Xin đại chúng ra tay cứu khổ
Phát tâm cầu Phật độ chúng sanh
Cùng nhau dốc một lòng thành
Cầu cho thoát khỏi trong vành trầm luân”.

Ngày xưa chúng tôi thường đi chợ mua tôm cá phóng sinh. Làm thường xuyên và đều đặn mỗi mồng một và ngày rằm. Ngày nay tôi hiểu rằng phóng sinh hay làm các việc thiện cũng còn là tùy duyên.  Tùy duyên là khi thấy chúng sinh bị giết chết, bị hành hạ, bị ăn thịt, bị gặp nạn mà thấy được, gặp được thì ta ra tay cứu giúp. Nếu đủ nhân duyên và điều kiện thì ta phát lòng từ để cứu các chúng sinh cụ thể này. Ta cứ làm nhiều lần, làm liên tục và rồi một ngày nào đó tự động tâm từ phát khởi. Và thế  nào chúng ta cũng thường xuyên gặp được những cảnh ngộ giúp ta có duyên lành cứu giúp chúng sinh.

Thấy một chú giun bò ngay lối đi ta có thể đưa họ trở về đất. Thấy một chú kiến sa vào chậu nước ta có thể lấy 1 cọng que cho quý vị ấy bám vào và thả về cây. Thấy một chú chó, chú chim gặp nạn ta có thể yêu thương và chăm sóc. Các chúng sinh ấy cảm nhận tôt lắm nhé.

Nhân duyên quan trọng để kết nối với những nhân duyên tốt đẹp khác. Cứ một vài lần tạo duyên lành, nhất định sẽ xuất hiện các duyên lành khác. Một việc được thành tựu tức đã hội tụ nhiều nhân duyên bởi nếu chỉ thiếu một duyên thì có thể không tựu thành. Các chú tép hôm nay đủ nhân duyên để trở về nhà bởi đúng nhân duyên tôi đi thiền hành lúc này, đúng lúc tôi ngửi thấy mùi tanh, đúng lúc người bắt tép xuất hiện,… Mà rất nhiều chúng sinh được bắt mà chỉ có một số chúng sinh được văng ra khỏi vợt, không vào xô của vợ chồng nhà bắt tép kia. Hơn nữa, tôi nghĩ rằng có rất nhiều chúng sinh – tép rất nhỏ nữa mà có thể tôi đã không nhìn thấy và đã không cứu được họ.

Chúng ta thường gọi nhân duyên tốt là thuận duyên và nhân duyên xấu là nghịch duyên. Có những điều kiện có lợi và cũng có những điều kiện bất lợi cho ta. Có những duyên thuận  và cũng có những duyên không hề thuận với chúng ta. Nhân duyên luôn xảy ra với vạn vật trong khắp vũ trụ này. Chuyện những chú tép sáng nay chỉ là những gì tình cờ tôi thấy và quan sát được.

Nghĩ cho cùng, nhân duyên thì không có thuận nghịch. Mọi thứ khi hội đủ nhân duyên thì có, hết nhân duyên thì tan. Chuyện bác phụ nữ nhặt sò, ốc và sứa phóng sinh xuống biển Thiên Cầm năm nào và chuyên tôi phóng sinh tép sáng nay là bình thường. Tôi đã học được những bài học rồi nên tôi phóng sinh một cách bình an và thanh thản. Tôi cũng học và ngộ ra rằng mình không nên thấy thuận duyên thì sung sướng rồi muốn duy trì mãi nhân duyên ấy, còn khi gặp nghịch duyên thì khó chịu rồi tìm mọi cách để né tránh và  loại trừ. 

Thầy tôi dạy rằng, chưa hẳn thuận duyên sẽ đem lại giá trị hạnh phúc hay nghịch duyên sẽ mang tới khổ đau. Rằng có khi nghịch duyên đưa tới sự trưởng thành, còn thuận duyên dễ khiến ta yếu đuối. Thầy cũng dạy rằng nhiều khi thuận duyên ban đầu nhưng lại biến thành nghịch duyên sau này, có khi nghịch duyên bây giờ nhưng lại biến thành thuận duyên trong tương lai. Tất cả đều tùy thuộc vào duyên và cách sống của chúng ta.

Nhân lành duyên lành để sáng nay tôi được phóng sinh. Nhân duyên này lại nhắc tôi về một bài học sâu xa hơn nữa rằng chúng ta nên sống thuận pháp, tùy duyên. Duyên nào cũng được. Hãy sống ung dung  tự tại. 

Tuần trước tiễn anh bạn tên là Phương quay lại cộng hòa Séc. Trước khi đi anh tặng tôi bức tượng gỗ lũa do chính tay anh sáng tác có hình con rắn rất đẹp. Anh biết tôi tuổi rắn. Mang về nhà tôi đặt thêm bức tượng Phật nhỏ xíu ngồi thiền dưới thân hình rắn chở che như cảnh tôi nhìn thấy khi về Bồ Đề Đạo Tràng nơi Ấn Độ. Tuy nhiên câu nói mà anh Phương “rót” vào tai tôi hôm đó cứ làm tôi nhớ mãi “Đất xấu thì cây cứng, đất tốt thì cây mềm”. Gỗ lũa là gõi cây gỗ nên rất cứng rất bền. Người vượt qua bao chông gai, khó khăn, thử thách luôn là người bản lĩnh.

Người tu chúng ta cần có quyết tâm cao và tinh tấn tu hành. Ta tự sửa mình, tự chiến thắng mình trong mỗi hoàn cảnh, trong từng phút giây. Và khi thấy có cơ hội làm điều thiện không nên bỏ qua.

Bạn tôi bảo “Thích nhất rằng ở cuối các emal của anh Hùng luôn có câu nhắc nhở: Chút điều xấu cùng ngăn cùng giữ. Chút điều lành cùng thử cùng làm”. Tôi thì không để ý nên phóng sinh và các việc thiện lành một cách tự nhiên. Như tôi vẫn ăn, vẫn uống và vẫn thở. Làm mà như không làm. Đơn giản vậy thôi.

05h50 sáng

TS Nguyễn Mạnh Hùng

Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Công ty sách Thái Hà

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2021(Xem: 11151)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12051)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12623)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11572)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11701)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12379)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 11863)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11492)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 10332)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/2020(Xem: 13145)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.