Người Tàn Mộng (thơ)

26/03/201614:53(Xem: 10356)
Người Tàn Mộng (thơ)
blank
Namo Sakya Muni Buddha
 
Vực thẳm
Một thời Thế Tôn trú tại Ràjagaha, trên núi Gìjjhakùta. Rồi Thế Tôn cho gọi các Tỷ khưu:
 
Này các Tỷ khưu, chúng ta hãy đi đến Patibhànakùta. 
Khi đến Patibhànakùta, một Tỷ khưu thấy vực thẳm liền bạch Thế Tôn:
 
Bạch Thế Tôn, thật là lớn, thật đáng sợ hãi, vực thẳm này! 
Không biết có vực thẳm nào khác lớn hơn và đáng sợ hãi hơn không?
 
Này các Tỷ khưu, có vực thẳm khác lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này. 
Đó là các Samôn nào không biết rõ như thật: đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt và 
đây là con đường đưa đến khổ diệt. Họ hoan hỷ với các hành đưa đến sinh, họ hoan hỷ với các hành đưa đến già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì hoan hỷ với các hành nên tạo dựng các hành đưa đến sinh, già…ưu, não. Vì tạo dựng các hành đưa đến sinh, già…ưu, não nên bị rơi vào vực thẳm của sinh, họ rơi vào vực thẳm của già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu và não. Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ.
 
Do vậy, này các Tỷ khưu, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, 
đây là khổ diệt và đây là con đường đưa đến khổ diệt.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ V, chương 12, phẩm vực thẳm, phần vực thẳm, VNCPHVN, NXB Tôn giáo 2002, tr651).
 
Suy Nghiệm: 
Trong tự nhiên, sâu nhất có lẽ là những vực thẳm trong lòng đại dương. Đối với con người, 
vực thẳm khó dò là tấm lòng ngổn ngang bao suy tư, toan tính. Dù sâu đến mấy, vực thẳm của đại dương
 vẫn đo được. Nhưng lòng người thì khó lường bởi tận trong bản chất vốn dĩ thậm thâm, thường bất chợt đổi thay trong từng sát na của các thái cực buồn vui, thương ghét, hạnh phúc và khổ đau, cao thượng và đớn hèn...
 
Đứng trước vực thẳm của tự nhiên, con người thường có cảm giác sợ hãi. Đối diện với vực thẳm của 
lòng người, ta cảm thấy ghê tởm và kinh khiếp. Nhưng trớ trêu thay, ít ai thấu hiểu và cảm nhận hết cái
 đốn mạt, dối trá và nguy hiểm của vực thẳm lòng mình. Trong tấm bi hài kịch cuộc đời, những chiếc mặt nạ được liên tục được mang vào rồi lại cởi ra, riết rồi tự thân của những diễn viên ấy không xác định được đâu là mặt thật của chính mình. Những chiếc mặt nạ ấy là bọt bèo sôi lên từ vực thẳm của tâm thức, là mắt nổi 
của vọng tưởng vốn gian trá, xảo quyệt và muôn thuở dối lừa.
 
Trong đạo lộ giải thoát, một vực thẳm sâu hơn, nguy hiểm hơn bất kỳ vực thẳm tuyệt mù nào là vô minh, 
không nhận ra chân lý mà biểu trưng là Tứ Thánh Đế. Theo tuệ giác của Thế Tôn, không nhận chân được 
bốn sự thật mới là vực thẳm lớn nhất và nguy hiểm nhất. Chấp nhận sinh tử và ưu não một cách tự nguyện
 và thích thú, thậm chí xem đó là cứu cánh của một đời người, một căn bệnh nan y của chúng sinh có tiền 
sử vô minh, gần như hết phương cứu chữa.
 
Muốn vượt ra khỏi hố thẳm của cuộc đời và của chính tự thân, những người con Phật phải quay về 
tự tâm, nhìn thẳng vào cuộc đời và chính mình. Để rồi từ đó, cảm nhận được những sự thật về con người 
và thế giới, thấy được nguy hiểm của vực thẳm vọng tâm để xa lìa đồng thời thể nhập, an trú chơn tâm 
mà cụ thể là giác ngộ Bốn sự thật cao thượng.
blank

Người Tàn Mộng
Khi nằm mộng ai biết mình đang mộng
Tỉnh giấc rồi mới biết đã từng mơ?.
Người tu Đạo, hỏi bao giờ hết mộng
Thưa, là khi Khai ngộ, thoát mê mờ.
 
- Này hành giả, con đường nào khai ngộ
Cuốn kinh nào mở ngỏ chốn Vô sanh?
Rừng Phật Pháp.. nơi nao bày quang lộ
Chữ nghĩa đầy.. con kiến mãi bò quanh.
 
- Khi học Phật nên vén màn ngôn ngữ!
Đạt ý rồi ngay đó hãy vong ngôn.. (*)
Giới, Định, Tuệ ba khóa vàng nên giữ
Chánh Niệm trên Thân, Ngữ với Tâm hồn..
 
Có đôi lúc mãi lo tìm chìa khóa
Trong túi chìa vẫn đó lại không hay!
Hãy ngồi xuống Lặng Yên và Nhận Biết
Mặt trời hằng sau lớp lớp mây bay..
 
- Lúc thất vọng, hồn chìm trong quá khứ
Khi âu lo là sống ở tương lai .
An trú Xả, Tuệ tri cùng thực tại
Mộng mê đời.. thôi dứt kể từ đây!


Như Nhiên Th Tanh Tue
(*)  Y nghĩa bất y ngữ .
blank
blank   
   have a great day photo: Have a Great  Day Haveagreatdaysw.gif            
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/05/2025(Xem: 3642)
ài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: qua sông, bỏ bè, thấy thường trực không Phật, không ta, không người. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
24/05/2025(Xem: 3884)
(Lời người dịch: Bài này trích từ Viên Âm Nguyệt San, số 21, tháng 5 và 6, năm 1936. Tác giả là Viên Âm, được suy đoán có lẽ là Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Bài này kể chuyện một viên quan đời Vua Tự Đức, chỉ ra tánh vô thường và tánh vô ngã trong kiếp người. Đối với nhà Phật, hễ nhận ra tánh vô thường thường trực nơi thân tâm là đủ để giải thoát, không cần tu pháp gì khác nữa. Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ cùng từng có bài thơ, nói rằng muốn vượt qua dòng sông sinh tử để tới bờ giải thoát, thì hãy xem thân tâm như con trâu bùn qua sông, tan vào dòng sông.
24/05/2025(Xem: 5647)
Hôm nay 22 May 2025 chúng con xin tiếp tục tường trình hình ảnh cứu trợ động đất Myanmar đợt 9. Cũng như 8 đợt cứu trợ vừa qua, lần này chúng con cũng kết hợp cùng với chư vị Bhante, chư Tăng Ni VN tại Myanmar (Nhóm thiện nguyện Ánh Sáng Từ Bi, Quỹ Phụng Sự Tâm An, Quỹ Từ Tâm, nhóm Sư Cô Thích nữ Như Hiếu- Suriyavati)
23/05/2025(Xem: 6216)
Kinh A Di Đà Yếu Giải - Kinh Tam Bảo Người nói kinh này: Đức Phật THÍCH CA MÂU NI Ngài Tam Tạng Pháp Sư CƯU MA LA THẬP dịch chữ Ấn Độ ra chữ Hán Ngài Sa Môn TRÍ HÚC giải thích những nghĩa thiết yếu trong kinh Bồ Tát Giới đệ tử TUỆ NHÂN dịch Hán văn ra Việt ngữ
18/05/2025(Xem: 4249)
Mùa Phật đản, trong tâm tình tri ân đức Phật giáng trần cùng với tâm nguyện hộ trì chư Tôn đức Tăng già, các bậc tôn đức tu hành nơi xứ Phật, tuần lễ vừa qua (11 May 2025) chúng con, chúng tôi đã thực hiện viên mãn một buổi cúng dường chư Tăng các truyền thống Phật giáo tại Bangladesh Monastery thuộc khu vực Bồ Đề Đạo Tràng Bodhgaya India với sự bảo trợ của chư tôn đức Ni và chư Phật tử 4 phương...
18/05/2025(Xem: 4925)
Với năm vóc sát đất, con xin thành kính đảng lễ xá lợi Phật với tâm trí hân hoan ghi nhớ ân đức như biển cả bao la của Thế Tôn, khi ngài là một đạo sỹ Sumedha (đã chứng 8 thiền và 5 thắng trí (ngũ thông), có khả năng chứng đạo A La Hán, nhưng không vì an vui cho bản thân trong cảnh giới niết bàn, không còn buộc ràng, phiền não khổ đau, mà thay vào đó, ngài vẫn kiên tâm với Đại Nguyện Thuở xưa (đã được thực hành qua 16 A tăng kỳ kiếp), trở thành một vị Bồ Tát, lần đầu tiên được Đức Phật Nhiên Đăng (Dipankara) thọ ký, sẽ trở thành một vị Phật toàn giác Gotama (Thích Ca Mâu Ni Phật) sau 4 A tăng kỳ kiếp và 100 ngàn đại kiếp[1].
14/05/2025(Xem: 4356)
Đã cuối xuân rồi mà khí trời còn mát mẻ lạ thường, hoa vạn thọ rực rỡ khắp mọi nơi, cái màu vàng cam tôn quý này dùng để dâng cúng cho thần linh. Hoàng hậu Maya bấm đốt ngón tay tính và đã thấy gần đến ngày khai hoa nở nhụy bèn vào cung:
14/05/2025(Xem: 5921)
Được sự nhiệt tâm thương tưởng của Tăng Ni, Phật tử hải ngoại đến những hoàn cảnh Tăng Ni và dân chúng Myanmar gặp nhiều khó khăn sau trận động đất , hôm nay ngày 6 tháng 5 2025 chúng con xin tiếp tục tường trình hình ảnh cứu trợ động đất Myanmar đợt 7.
14/05/2025(Xem: 7781)
Tháng tư ngập tràn nắng gió Cây cỏ xanh tươi Trời đất mười phương lộng lẫy Ba ngàn thế giới hoan ca
14/05/2025(Xem: 7015)
TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH KHOA CHÚ 2014 (Giảng lần thứ 4) PHẨM THỨ 6: PHÁT ĐẠI THỆ NGUYỆN Phát Thệ Nguyện Rộng Lớn Hòa thượng Tịnh Không chủ giảng Giảng tại: Hiệp Hội Giáo Dục Phật Đà Hong Kong Dịch giả: Diệu Hiệp Giảo chánh: Thích Thiện Trang