Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Học Phật Mà Không Chịu Trưởng Thành

18/12/201509:09(Xem: 1363)
Học Phật Mà Không Chịu Trưởng Thành

Minh Đức Triều Tâm Ảnh
(Sīlaguṇa-Mahāthera)

NHẶT LÁ RỪNG XƯA
Tủ sách Huyền Không Sơn Thượng

(Phật lịch 2558 – 2015)

Học Phật Mà Không Chịu Trưởng Thành

Mùa xuân, vạn vật sinh trưởng. Ngắm một cây thân mộc hay thân thảo, ta thấy chúng đều đang chuẩn bị sinh lực để phát triển cành nhánh, nảy lộc, đơm hoa rồi kết trái. Con người cũng vậy, bé thơ, thiếu niên rồi thanh niên... Cái cây thì nó phát triển toàn bộ. Con người cũng phát triển toàn bộ cả phần vật chất và phần tinh thần. Thân vật chất thì tương tợ nhau nhưng phần tinh thần thì nó phát triển rất phức tạp. Nhưng nói chung, chúng chạy theo hai khuynh hướng, hướng xấu ác và hướng tốt lành.

Xã hội ngày nay, chư vị thức giả, trí giả đang báo động tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của các giá trị tinh thần. Những chuẩn mực về đạo đức, luân lý, tình thương, lẽ phải, điều thiện, cảm thông, tha thứ, nhân nghĩa... đang bị xơ cứng, xói mòn, lệch chiều, điên đảo... Chưa bao giờ nhân loại đứng trước hiểm hoạ diệt vong khi những chuẩn mực nêu trên bị “con người” tìm cách xoá sổ như ngày nay. Cả thế giới, nước nào cũng tăng cường vũ khí huỷ diệt. Rồi chiến tranh, khủng bố, dịch bệnh, ma tuý, buôn người, buôn nội tạng, vô cảm, trơ lì, độc ác, bạo tàn, gian ác, dối trá, mưu sâu, kế độc... hằng ngày hằng giờ diễn ra khắp mọi nơi. Một vài đất nước an lành, an toàn, an vui... còn sót lại trên thế giới, cụ thể là nước Bhutan, một quốc gia coi như trăm phần trăm theo đạo Phật thì tợ như viên ngọc Như Ý giữa sa mạc lòng người, lòng đời; thật là ngàn năm có một, phải đáng cho nhân loại này suy gẫm cạn sâu.

Đạo Phật đúng là một đứa con đã trưởng thành của nhân loại. Do đã trưởng thành nên nó phát triển những tố chất, phẩm chất của nhân tính để đi lên, để thăng hoa; và nó loại trừ, làm cho giảm trừ, tiêu mòn, tận diệt những tính chất xấu ác bản năng luôn đeo bám nặng nề đưa tâm thức đi xuống ngang bằng với các loài thú, có kẻ còn tệ hơn cả loài thú!

Vậy, người học Phật phải lớn, phải trưởng thành; nếu không, chúng ta sẽ rùng mình, lạnh gáy khi đọc câu kinh Lời Vàng số 152 mà đức Phật đã khiêm khắc, răn đe, dạy bảo:

“- Kẻ kia kém học, ít nghe

Nở nang, cường tráng, to bè như trâu

Lớn lên, đống thịt lớn mau

Nhưng mà trí tuệ có đâu lớn cùng?!”

(Appassut’āyaṃ puriso

balivaddo va jīrati,

maṃsāni tassa vaḍḍhanti

paññā tassa na vaḍḍhati)

Phải lớn, trí tuệ phải lớn! Chứ không phải là lớn phần vật chất, phần thịt hoặc phần xấu ác, bản năng! Mà nếu muốn có trí tuệ lớn thì năm năng lực tâm linh cùng tiếp sức đi chung với tuệ (tín, tấn, niệm, định, tuệ) cũng phải biết lớn theo! Và nếu nghiêm túc xét theo tiêu chí ấy thì đa phần trong chúng ta, những người tu Phật, nhất là cận sự nam nữ, vẫn còn là trẻ con, những con người chưa chịu lớn, chưa chịu trưởng thành.

Con nít thì ai nói gì tin nấy, bạ đâu theo đấy! Cũng vậy, có một số Phật tử nghe có một ông đạo hay một người thầy giỏi nào đó thì ùn ùn đổ tới. Một dạo như Thanh Hải, một dạo như Duy Tuệ... và có cả hằng chục “đạo sư”, “giáo chủ” không biết ở đâu xuất hiện với danh xưng pháp sư, đại pháp sư được quảng cáo trên một số trang mạng là người ta lại như lên cơn sốt chầu chực mong được ban phước lành. Họ có cả những bùa chú, pháp ấn linh nghiệm trừ tà đuổi quỷ, đem đến an lành, hạnh phúc; và họ có cả năng lực đưa linh hồn đến nơi giải thoát nữa! Có nơi còn quảng cáo, là niệm cái này cái kia thì siêu độ tất thảy. Thiện ác, ngu trí gì cũng siêu độ được tất. Cả hai trường hợp nêu trên đều khỏi tu tập làm gì cho mất công! Vậy mà người ta cũng tin thì không gọi là trẻ con là gì!

Còn nếu là người lớn, trưởng thành thì người ta tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, tin nhân quả nghiệp báo, tin luân hồi tử sanh, tin Tứ Diệu Đế (nghĩa là tự mình thấy khổ, nguyên nhân khổ, diệt khổ và con đường diệt khổ).

Trẻ con thì sợ doạ ma, doạ quỷ, doạ ông “kẹ”! Cũng vậy, tương tự vậy, một số Phật tử gặp những giảng sư, pháp sư, “ta-bà sư” nào đó hù doạ nếu không theo ông, theo cách tu hành của ông hoặc không để ông mở luân xa cho thì sẽ bị ma quỷ quấy nhiễu làm cho điên loạn. Hoặc, có vị luôn tìm cách doạ thiên hạ bằng cách chỉ nói cái khổ của địa ngục; và phải lập đàn tràng để ông cúng lễ cho thì cha mẹ nhiều đời mới được vãng sanh!

Thế mà hằng ngàn Phật tử cũng tin, tuân theo răm rắp thì không là còn quá trẻ con là gì? Nếu là một Phật tử lớn khôn, trưởng thành về trí tuệ thì họ biết rằng, chính tôn giả Mục Kiền Liên, bậc thượng thủ của giáo hội, là thần thông đệ nhất cũng không có khả năng cứu độ mẹ, mà phải nhờ vào năng lực của đức Phật cùng chư đại thánh tăng, sau mùa an cư chú nguyện cho mới được, do “cộng lực” của tâm thanh tịnh! 

Trẻ con thì luôn luôn tìm chỗ để nương tựa nơi cha nơi mẹ nơi ông nơi bà nơi anh nơi chị. Khi đói, khóc lóc đòi ăn. Khi đau, khóc lóc nhờ cha, cậy mẹ. Cũng vậy, rất nhiều cận sự nam nữ của chúng ta khi làm ăn xuôi chèo mát mái thì thôi, nhưng khi gặp tan nạn, ốm đau, rủi ro, lụn bại gia sản, hoặc do muốn chồng con thăng quan tiến chức, đỗ đạt, qua cơn thương vụ làm ăn hiểm nguy... thì họ cũng “khóc lóc”, cũng tìm nượng tựa nơi thế giới huyền bí u linh nào đó! Họ xì xụp khấn vái, van xin, cây đa, ông táo, điện này, chùa kia để Trời, Thần, Thánh, Phật gia hộ, độ trì cho. Đây cũng là trường hợp trí tuệ chưa trưởng thành. Tại sao vậy? Bậc trí thì nhớ lời đức Phật dạy trong kinh Lời Vàng số 160:

“- Tự ta bảo hộ cho ta

Có ai nương tựa gần xa mà cầu!

Tự mình chế ngự làm đầu

Khó khăn điều phục, gắng lâu cũng thành!”

(Attā hi attano nātho

ko hi nātho paro siyā,

attanā va sudantena

nāthaṃ labhati dullabhaṃ).

Con nít thì thường không biết đâu hiểm nguy, đâu an toàn. Nó có thể vui chơi hồn nhiên, vô tư nơi những vật nhọn, vật cháy, vật nổ... Đến khi “cái quả” giáng đến có thể sinh nhiều tai nạn, hung hoạ, tật nguyền và có thể cả tử vong. Cha mẹ dù có quan tâm, lo lắng, đau buồn thì chuyện cũng đã xẩy ra rồi! Cũng vậy, là thế gian này. Bình thường, con người họ làm tất cả mọi việc, không từ nan cả việc xấu ác, gian dối... mục đích là kiếm cho thật nhiều tiền. Họ lân la, kề cận, “vô tư, hồn nhiên” tỉnh bơ bên xì ke, ma tuý, đao kiếm, mãi dâm, hối lộ, tham nhũng, quyền chức, bạc tiền, địa vị... đến khi bi lao tù, hình ngục, thân tàn ma dại... thì cũng là chuyện đã rồi! Chuyện đã rồi là khổ, là đau, là ăn năn hối hận, là nhà tan cửa nát! Thế thì đa phần họ sợ “quả” chứ không biết sợ “nhân”. Một số người tu Phật cũng nằm chung trong tình huống trên. Rất nhiều người khi hanh thông, thành đạt thì không chịu tu hành; đến khi “hữu sự” do những nhân xấu đã làm trong quá khứ, quả đau khổ đến, họ mới chịu đi chùa nghe pháp, nghe kinh, bố thí, làm phước.  Nghĩa là cũng sợ quả chứ không sợ nhân. Bồ-tát, bậc trí thì trái lại. Cho nên khế kinh có nói: Bồ-tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả.

Con nít thì thích màu mè, xênh xang hình thức, trống đánh, kèn thổi, vui chơi nhảm nhí. Thì xã hội, con người ngày nay cũng vậy. Cứ đám đông ồn ào, nhảy múa, ca hát, đá banh, sao này sao kia thì ùn ùn tung hô, cả trăm fan ngàn fan, tự đánh bóng, quảng cáo rầm rộ... chẳng hề trưởng thành trong nhận thức, trong tư cách, trong văn hoá! Nhan nhản chuyện khoe áo quần, ăn diện, xe cộ, các vòng... hợm hỉnh, vô duyên của những con người không chịu lớn, à có lớn, lớn phần thịt, phần bản năng, phần động vật bên trong! Tại chỗ này, tự dưng tôi nhớ da diết, tâm cảm câu thơ của cụ Tản Đà: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Đúng vậy, toàn là trẻ con đang nhảy múa, hò hét, vui chơi nhãm nhí xung quang chúng ta! Nói người lại nghĩ đến mình, Phật giáo mình. Rất nhiều người, cả tu sĩ và cư sĩ cũng đều là còn trẻ con như thế. Có những ngôi chùa màu sắc loè loẹt, sặc sỡ, điện chớp nháy xanh đỏ trắng vàng thật là vui mắt! Ta còn thấy trong những đại hội Phật giáo thế giới, có một số tu sĩ không phải nước mình, ăn mặc “phức tạp” hình thức, trình diễn khăn này, quàng kia, áo trong, áo ngoài, dây mũ, dây lưng, dây cột đủ thứ... lạ lùng như phường hát tuồng! Lại nói đến các lễ hội. Càng lễ hội tưng bừng chừng nào thì người ta chen chân không lọt, Phật giáo cũng không ngoại lệ. Lại còn chùa nào có đàn ca xướng hát thì Phật tử mới đông, mới có tiền cúng dường! Có nơi, nghe nói, có “ta-bà sư” còn bắt ấn, múa ấn, cứ mỗi ấn múa là mười lăm triệu. Nhiều ấn chừng nào có phước chừng đó; và như thế những vong linh mới siêu độ được! Ôi, nhiều lắm, kể không hết đâu. Nhưng nói tóm một câu: Vậy mà người ta cũng làm được, tin được thì không là trẻ con thì gọi là gì?

Con nít thì thích bắt chước. Người lớn làm sao thì chúng bắt chước như thế. Nào là bắt chước ăn mặc, tô môi, độn đủ thứ, chuyển giới, cách đi đứng, hát hò, nhảy tưng tưng, khoe thân, khoe những phần phản cảm... mà lại hí hửng, hãnh diện... bằng ta bằng người! Còn được gọi là văn hoá, văn minh, hiện đại, tiên tiến nữa chứ! Trong giới Phật giáo thì cái tính bắt chước cũng đang báo động. Các ông sư Thiếu Lâm múa võ tưng bừng có “thương hiệu làm ăn đàng hoàng” thì đâu đó giới tu sĩ cũng xem võ học là một cách tu! Đâu đó có mấy nhà sư Đại Hàn lên sân khấu biểu diễn ca nhạc kịch thì có người cũng đem vào nhà chùa để ca vũ nhạc kịch như ai! Thấy mấy ông pháp vương, pháp sư Tây Tạng nào đó đem những mạng đà-la, những cách mật truyền gì đó thì ta cũng có người bắt chước huyền huyền bí bí để nhát thiên hạ, lôi kéo tín đồ... mới là thời thượng! Những vị thiền sư chân chánh ở Miến, ở Thái nhiều năm tu học trong rừng sâu, sau đó, lấy kinh nghiệm tu chứng bản thân để dạy yếu chỉ minh sát cho người có duyên khai tâm mở trí. Thấy hay, thế là người ta bắt chước. Một số tu sĩ, cư sĩ mới tu học đâu từ “mới đầu hôm cho đến sáng”, bảnh mắt ra, đã bắt chước thành thiền sư để dạy thiền minh sát nơi này nơi nọ. Thấy người ta “phồng xẹp” cũng bắt chước “phồng xẹp”. Thấy người ta đi kinh hành “dở à, bước à, đạp à!” cũng bắt chước “dở à, bước à, đạp à!” Hiện trạng này cũng nhiều lắm! Đủ mọi loại bắt chước. Băt chước giống chùa Tàu, chùa Đài Loan, chùa Nhật, chùa cung đình! Có nhiều “Đại Tự” nổi danh trên báo mạng, trên thông tin du lịch, tôi đến thăm xem, tay cầm máy ảnh... đi một vòng... không biết chụp cái gì, đành bỏ không, ra về. Vì tôi không thấy đâu là sự tinh tế của nghệ thuật kiến trúc, cũng không thấy đâu là hồn Việt, hồn thiền... chỉ thấy “hồn vật chất” hoành tráng, đường bệ, ngạo nghễ, phô cái đại bản ngã ra cho thiên hạ khâm phục, ca ngợi bạc tiền, công phu, vĩ đại! Ở đâu đó thường thích cái to lớn, vĩ đại, kỷ lục này, kỷ lục nọ... bắt chước chẳng khác chợ đời! Ôi! Cái loại con nít, chưa chịu trưởng thành này kể sao cho xiết!

Còn nữa, con nít thì mau quên, cái gì vừa làm tức thời là quên ngay! Nó phá nghịch cái gì đó, cha mẹ la rầy hoặc trách mắng... một vài lần cũng không ăn thua. Đôi khi phải đánh đau, nó mới nhớ! Cũng vậy, rất nhiều người tu Phật cũng còn tính trẻ con như thế. Vừa xin giới hoặc vừa nguyện cái gì đó trước Tam Bảo – nhưng rồi, lúc ra chợ, gặp bạn bè lôi cuốn, thế là quên giới, quên lời nguyện ngay! Có trường hợp khác, những lời khuyên dạy sống đời trong lành, hiền thiện của thầy, của kinh pháp, có thể học thuộc lòng... nhưng tập khí quá mạnh, lôi cuốn vào đường xấu, vẫn chưa tỉnh. Đến khi nghiệp báo trổ quả, đánh cho những đòn đau, khi ấy mới nhớ, mới tỉnh. Thế không gọi con nít là gì!

Khái quát như thế cũng tạm đủ. Thế gian này, như vậy, đa phần chúng sanh chưa chịu trưởng thành. Giới tu Phật cũng thế, không chịu làm người lớn. Đáp ứng và nhu cầu. Nhu cầu và đáp ứng. Đói thì tìm vú mẹ. Trẻ kêu khóc là do bụng đói, hãy cho nó cái ăn! Làm ngang đó và thoả mãn ngang đó. Không chịu lớn khôn hơn để thấy sâu, thấy rộng về nhân, về quả, về tâm, về nghiệp, về tín, về tuệ. Rốt ráo hơn tí nữa là phải thấy lý duyên sanh, thấy khổ và nguyên nhân khổ để diệt khổ mới xứng đáng làm người lớn, người con trưởng thành trong giáo pháp của đức Sakyā Gotama lịch sử!

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/11/202007:37(Xem: 190)
Nhân loại đã biết cách bay lên mặt trăng, tuy nhiên nhiều nơi trên địa cầu vẫn còn bị ràng buộc với những thói quen xưa cổ, trong đó một thành kiến khó rời bỏ là xem nhẹ phụ nữ. Hầu hết các tôn giáo cũng xem nhẹ phụ nữ. Riêng trong Phật Giáo, phụ nữ từ xưa vẫn có một vị trí đáng kính và bình đẳng trên đường học đạo, để tận cùng là thành tựu Niết Bàn. Khi vua Pasenadi nước Kosala không vui vì hoàng hậu Mallikà sinh một bé gái, Đức Phật trong Kinh SN 3.16 dạy vua rằng: "Này Nhân chủ, ở đời / Có một số thiếu nữ / Có thể tốt đẹp hơn / So sánh với con trai / Có trí tuệ, giới đức..." Hơn hai mươi thế kỷ sau, ý thức nữ quyền mới trở thành phong trào. Theo định nghĩa cô đọng và đơn giản, nữ quyền là niềm tin vào sự bình đẳng của nữ giới với nam giới về chính trị, kinh tế và văn hóa. Do vậy thường khi, nữ quyền gắn liền với dân quyền, vì bình quyền nam nữ dẫn tới ý thức bình quyền cho từng người dân, đặc biệt là nơi các dân tộc đang bị các nước thực dân thống trị, hay nơi các sắc tộc thiểu số
16/11/202020:23(Xem: 223)
Vào ngày 8 tháng 11 vừa qua, Hội đồng Thống nhất Thiên Chúa giáo, Phật giáo và Ấn Độ giáo Bangldesh (Bangladesh Hindu Bouddha Christian Oikya Parishad; BHBCOP), đã tổ chức một chương trình tập hợp và biểu tình hàng loạt trên toàn quốc để phản đối các cuộc tấn công, đốt phá, tra tấn và giết hại người tôn giáo thiểu số tại Bangldesh. Là một phần của cuộc biểu tình, họ đã thành lập các chuỗi người và các cuộc biểu tình từ 10 giờ sáng đến 12 giờ trưa tại các giao lộ chính của các trụ sở cơ quan chính quyền cấp quận, huyện, thành phố và tỉnh trên khắp đất nước, bao gồm cả giao lộ Shahbagh, Dhaka và giao lộ ngã tư New Market, Chittagong.
16/11/202014:18(Xem: 221)
Vào giữa thế kỷ thứ mười bảy, Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh tầm quan trọng như thế nào để việc phân tích không trở thành một bài học thuộc lòng như vẹt mà phải là sống động. Khi chúng ta tìm kiếm cho một “cái tôi” tồn tại cụ thể như vậy mà không thể tìm kiếm được nó hoặc là cùng giống hay khác biệt với tâm thức và thân thể, điều thiết yếu là phải tìm kiếm cùng khắp; bằng khác đi chúng ta sẽ không cảm thấy tác động của việc không tìm thấy nó. Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã viết:
15/11/202016:38(Xem: 172)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tín và lâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu đã được rút gọn, chỉ giữ lại ý chính, sẽ không có chú thích về nguồn gốc. Ngoài ra trong bài 1 trước đây, người chuyển ngữ đã mạn phép ghi chú dài dòng với hy vọng có thể giúp một vài độc giả theo dõi dễ dàng hơn chăng các lời trích dẫn đôi khi khá cô đọng hoặc trừu tượng? Dầu sao thiết nghĩ sự suy tư và phán đoán là quyền hạn ưu tiên và thiêng liêng của người đọc, vì lý do đó kể từ bài 2 này, người chuyển ngữ sẽ mạn phép chỉ xin ghi chú thêm một vài suy nghĩ riêng của mình khi cảm thấy cần thiết. Độc giả có thể xem bản gốc tiếng Pháp của các câu trích dẫn này trên trang mạng của báo Le Monde: https://dicocitations.lemonde.fr/auteur/616/Bouddh
14/11/202018:33(Xem: 492)
Kính mạn phép được thay đổi lại lời của một bài hát mà âm điệu đã thấm sâu vào huyết quản tôi từ bao giờ và hôm nay một lần nữa lại vang vang ...nửa như kích thích sự hưng phấn trong tôi nửa như khuyến khích tôi phải trình bày vì sao tôi thấy ra được điều này " Một niềm an vui hạnh phúc hỷ lạc thật sự có mặt và có thật trong mỗi con người chúng ta "
13/11/202021:05(Xem: 283)
Từ khi có Lục tổ Huệ Năng đưa ra lý thuyết chúng sanh có sẳn Tánh Giác gọi là Phật Tánh trong người nhưng vì bị Ý thức che mờ đi nên cần ngồi thiền vén lớp ý thức này ra thì Phật tánh sẽ hiện ra thành Phật nên không cần kinh luật bất lập văn tự mà tu. Rất nhiều người bình dân phương nam đi theo một thời đông đảo. Câu hỏi được đặt ra là tánh giác này có trước hay sau ý thức? Thế nên mới đưa ra kế tiếp là giác ngộ rồi mới khởi tu tức là học kinh Phật. Vì Giác ngộ đến Giải thoát sinh tử là một chặng đường rất dài có khi rất nhiều kiếp cần trãi nghiệm. Vậy chúng ta nghiên cứu giác ngộ trước.
13/11/202020:57(Xem: 234)
Nhân khi đọc bài Thành Tựu Niết bàn của Cư sỹ Nguyên giác Phan Tấn Hải, chúng tôi xin phép kết hợp với thuyết big bang của Stephen Hawking và tiến trình giác ngộ của Đức Phật, và sự sống và chết theo Phật giáo để luận bàn về Niết bàn, giải đáp thắc mắc đức Phật chết rồi đi về đâu? Đây chỉ là khởi niệm mới lạ, biết đâu tương lai sẽ có người chứng minh được.
13/11/202020:46(Xem: 218)
Phương tây từ thế kỷ thứ 18 đã từng phát huy cái ngã cái tôi của con người như “tôi suy tư là tôi hiện hữu”. Từ đó đến nay người Phuơng tây phát triển cái tôi, đưa đến tôn trọng cái tính riêng biệt cũa cái tôi từ triết lý đến luật pháp. Nhưng đạo phật lại diệt ngã thì làm sao mà hoằng pháp cho người Phương tây tu theo phật được? Làm sao giải thích được ý nghĩa diệt ngã của đức Phật? Vậy ta có thể giải thích là không phải ngã? Khi người ngồi thiền định dưới cội bồ đề 49 ngày, người đạt giác ngộ và đập tay xuống đất mà nói ta đạt được chánh đẵng chánh giác do trời chứng , ta chứng và đất chứng.
13/11/202020:38(Xem: 246)
Thiền tông luôn luôn nhấn mạnh “Tánh không có hai” cho đó là ý thức phân biệt nên che mờ tánh giác của chúng sanh. Vì thế thiền là vén bỏ đi ý thức vô minh này. Câu hỏi đặt ra là Tánh không phân biệt này cần thiết khi nào? Và nó thật chất là gì? Nên nghiên cứu sâu về nó. Kể từ khi lục tổ Huệ Năng đưa ra phép tu tập Vô Niệm cho thiền tông thì tánh vô phân biệt là cốt lỏi của thiền. Vô niệm là vô là vô phân biệt thì niệm là niệm Chân Như sẽ hé lộ ra mà không cần hành giả phải làm gì hết gọi là Đốn Ngộ.
13/11/202019:55(Xem: 469)
Kính thưa chư Tôn đức & chư Phật tử hảo tâm Đã sắp đến ngày lễ Dewali (tết của xứ Ấn) nhưng năm nay vì tình hình lây nhiễm Dịch kéo dài nên dân nghèo sống quanh Bồ Đề Đạo Tràng trở nên túng thiếu triền miên do kinh tế sa sút và Bodhgaya không có khách hành hương lai đáo. Được sự đoái thương của chư Tôn Đức và chư Phật tử thiện hữu, chúng con, chúng tôi đã thực hiện một buổi phát chẩn lương thực cho 294 gia đình bần cùng tại 2 ngôi làng Muchalinda Naga. Đây là hai ngôi làng nằm phía sau hồ nước Mucalinda, nơi tương truyền ngày xưa vào tuần lễ thức 6 sau khi Phật Thành Đạo mãng xà vương, từ ổ chun ra, uốn mình quấn xung quanh Đức Phật bảy vòng và lấy cái mỏ to che trên đầu Ngài. Nhờ vậy mà mưa to gió lớn không động đến thân Đức Phật.