Thanh Tịnh Thí

23/11/201521:05(Xem: 9717)
Thanh Tịnh Thí
 
blank

Namo Sakya Muni Buddha
 Thanh Tịnh Thí
 
Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, Ngài cho gọi các Tỷ khưu:
Này các Tỷ khưu, có bốn thanh tịnh thí vật này. 
Thế nào là bốn?
 
1, Có bố thí thanh tịnh từ người cho, không thanh tịnh từ người nhận;
2, Có bố thí thanh tịnh từ người nhận, không thanh tịnh từ người cho;
3, Có bố thí không thanh tịnh từ người cho cũng không thanh tịnh từ người nhận
4, bố thí thanh tịnh từ người cho cũng thanh tịnh từ người nhận.
 
Ở đây, này các Tỷ khưu, người cho có giới, (thiện pháp) còn người nhận là ác giới, (ác pháp). 
Như vậy là bố thí thanh tịnh từ người cho, không thanh tịnh từ người nhận.
 
Này các Tỷ khưu, ở đây, người bố thí không có giới, (ác pháp) còn người nhận có giới,(thiện pháp). 
Như vậy là bố thí người nhận thanh tịnh, người cho không thanh tịnh.
 
Ở đây, này các Tỷ khưu, người cho là ác giới, (ác pháp) và người nhận cũng là ác giới,(ác pháp). 
Như vậy là bố thí, người cho không thanh tịnh và người nhận cũng không thanh tịnh.
 
Này các Tỷ khưu, ở đây, người bố thí có giới, theo thiện pháp và người nhận cũng có giới, 
theo thiện pháp. Như vậy là bố thí người cho thanh tịnh và người nhận cũng thanh tịnh.
Này các Tỷ khưu, có bốn thanh tịnh thí vật này.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương IV, phẩm không hý luận, phần thanh tịnh thí vật, 
VNCPHVN ấn hành năm 1996, tr706).
 
 Bình Giải:
 
Bố thí và cúng dường là một trong những pháp tu quan trọng của hàng Phật tử. 
Tuy nhiên, để bố thí và cúng dường thực sự có lợi ích, mang ý nghĩa tịnh thí thì người 
cho  lẫn người nhận phải nỗ lực để tự hoàn thiện mình. Biện chứng tương quan giữa cho 
và nhận của tịnh thí cho thấy không phải hễ có tài vật là có thể cho một cách đúng pháp được
 đồng thời cũng không thể nếu có người cho, dù thành tâm mà có thể vô tư để thọ nhận được.
 
Người cho hãy quán sát xem những gì được đem cho xuất phát từ đâu, có phải tịnh vật hay không? 
Người nhận cũng nên tự vấn lương tâm xem mình đã xứng đáng, có phần nào tương ứng để thọ 
nhận sự bố thí và cúng dường, để hồi hướng phước báo cho thí chủ hay không? Nếu tương quan
 này khập khiễng tức giữa người cho hoặc giữa nhận không thanh tịnh thì sự tịnh thí không thành,
 thậm chí chỉ còn lại hình thức trao đổi, hoán chuyển giá trị như muôn vàn sự trao đổi khác trong
 cuộc sống. 
 
Vậy thì, muốn có được sự tịnh thí, người cho và người nhận chỉ cần tuân thủ nguyên tắc
 “có giới, theo thiện pháp”. Khi một người sống trong sự bảo hộ của giới pháp đồng thời nỗ lực
 làm các việc lành thì tự thân đã đầy đủ phước báo xứng đáng để cho và nhận. Trong mọi trường hợp, 
thành tâm và nhất tâm vẫn là điều kiện cơ bản và then chốt nhất để tác thành tịnh thí.
 
Cho là một nghĩa cử cao đẹp, là biểu hiện của tâm xả. Tuy vậy, để sự cho (thí xả) của mình 
đạt được phước báo viên mãn thì phải nỗ lực để thanh tịnh thí tức người cho, vật đem cho và 
người nhận phải thanh tịnh và nhất tâm. Nỗ lực tu học, sống “có giới, theo thiện pháp” nhằm 
trang nghiêm phước báo tự thân nhờ tịnh thí là phương châm sống của những người con Phật. 
Namo Buddhaya
 
blank
Là Thế Chuyện Đời
 
Cuộc đời chẳng lợi thì danh
Không danh thì lợi - Chẳng tranh mới nhường
Lòng người không ghét thì thương
Không thương thì ghét, không buồn thì vui.
Đường đời không tới thì lui
Không thăng thì giáng, không lùi thì lên. 
Ân tình không nhớ thì quên
Không thân, không thế - Không tiền, không yêu.
  
Tình đời nắng sớm mưa chiều
Mang lòng Thị Nở, Thúy Kiều ngoài da. 
Tâm hồn không Phật thì Ma
Vòng vo trăm kiểu nào qua Tình, Tiền
Trường đời không chức, không quyền
Không trên thiên hạ, không yên trong lòng.
Sự đời mới chuộng cũ vong
Không thương, ai giận, ai mong, ai chờ?
 
Sang giàu không hết bơ vơ
Nghèo xơ xác, vẫn biết Cho, không nghèo 
Nhân tình thế thái eo xèo
Tấm thân tứ đại bọt bèo sắc, không.
 
- Thiên thu vẫn thế lòng vòng
Nghêu ngao điệp khúc bềnh bồng, đổi thay
Mênh mang hư thực kiếp này
Hai bờ buông xuống, là đây lối về.
Sắc, thinh.. bỏ lại bên lề
Ngồi yên lặng lẽ tràn trề thái hư.
 
Người về trong cõi Như Như
Thương người ôm mộng khư khư.., cũng đành!
 
Như Nhiên 
Thích Tánh Tuệ
 
blank
x_3b9851b7 photo x_3b9851b7.gif
佛菩薩的願力之-南無大行普賢菩薩十大願 - LULUMACHA - lulumacha’s blog
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/05/2021(Xem: 13340)
Phật sử ghi lại rằng, vào canh Ba đêm thành đạo, đức Phật đã tìm ra câu giải đáp làm sao thoát khỏi cảnh “Sinh, Già, Bệnh, Chết”, tức thoát khỏi vòng “luân hồi sinh tử”. Câu trả lời là phải đoạn diệt tất cả “lậu hoặc”. Lậu hoặc chính là những dính mắc phiền não, xấu xa, ác độc, tham, sân, si… khiến tâm con người bị ô nhiễm từ đời này sang đời khác, và đời này con người ta vẫn tiếp tục huân tập lậu hoặc, tạo thành nghiệp. “Lậu hoặc” hay “nghiệp” là nguyên tố nhận chìm con người trong luân hồi sanh tử, là nguyên nhân của khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử thì phải đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, không có con đường nào khác!
18/05/2021(Xem: 9856)
Năm 1959 một sự đe dọa của Tàu Cộng chống lại Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa đến sự phản kháng ở Lhasa. Hy vọng tránh được một cuộc tắm máu, ngài đã đi lưu vong và hơn 150,000 Tây Tạng đã đi theo ngài. Bất hạnh thay, hành động này đã không ngăn được sự tắm máu. Một số báo cáo nói rằng khoảng một triệu người Tây Tạng đã chết trong năm đó như một kết quả trực tiếp của việc Tàu Cộng xâm chiếm Tây Tạng.
16/05/2021(Xem: 18414)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
15/05/2021(Xem: 13314)
Phần này bàn về niên hiệu Long Thái và chúa Khánh ở Cao Bằng vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên các danh từ như vậy được dùng trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh (chữ quốc ngữ). Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "Chúa Thao cổ truyện" và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
15/05/2021(Xem: 9100)
Không nói được tiếng Tây Tạng và chưa bao giờ dịch tác phẩm nào nhưng Evans-Wentz được biết đến như một dịch giả xuất sắc các văn bản tiếng Tây Tạng quan trọng, đặc biệt là cuốn Tử Thư Tây Tạng ấn bản năm 1927. Đây là cuốn sách đầu tiên về Phật giáo Tây Tạng mà người Tây Phương đặc biệt quan tâm. Ông Roger Corless, giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Duke cho biết: “Ông Evans-Wentz không tự cho mình là dịch giả của tác phẩm này nhưng ông đã vô tình tiết lộ đôi điều chính ông là dịch giả.”
15/05/2021(Xem: 16360)
Ngay sau tác phẩm Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, người đọc lại được đón đọc Vua Là Phật - Phật Là Vua của nhà văn Thích Như Điển. Đây là cuốn sách thứ hai về đề tài lịch sử ở thời (kỳ) đầu nhà Trần mà tôi đã được đọc. Có thể nói, đây là giai đoạn xây dựng đất nước, và chống giặc ngoại xâm oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc. Cũng như Mối tơ vương của Huyền Trân Công Chúa, tác phẩm Vua Là Phật - Phật Là Vua, nhà văn Thích Như Điển vẫn cho đây là cuốn tiểu thuyết phóng tác lịch sử. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tuy có một số chi tiết, hình ảnh tưởng tượng, song dường như rất ít ngôn ngữ, tính đối thoại của tiểu thuyết, làm cho lời văn chậm. Do đó, tôi nghiêng về phần nghiên cứu, biên khảo, cùng sự liên tưởng một cách khoa học để soi rọi những vấn đề lịch sử bấy lâu còn chìm trong bóng tối của nhà văn thì đúng hơn. Ở đây ngoài thủ pháp trong nghệ thuật văn chương, rõ ràng ta còn thấy giá trị lịch sử và hiện thực thông qua sự nhận định, phân tích rất công phu của
15/05/2021(Xem: 7991)
Ấm ma là hiện tượng hóa ngôn ngữ. Trong kinh Lăng Nghiêm nói đến 50 ấm ma là nói đến biến tướng của nghiệp thức, của các kiết sử thông qua lục căn từng giao tiếp với lục trần trên nền tảng “ sắc-thọ-tưởng-hành-thức”.
15/05/2021(Xem: 12124)
Đọc xong tác phẩm nầy trong một tuần lễ với 362 trang khổ A5, do Ananda Viet Foundation xuất bản năm 2017, Bodhi Media tái xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2020 và tôi bắt đầu viết về Tác phẩm và Tác giả để gửi đến quý độc giả khắp nơi, nếu ai chưa có duyên đọc đến. Nhận xét chung của tôi là quá hay, quá tuyệt vời ở nhiều phương diện. Phần giới thiệu của Đạo hữu Nguyên Giác gần như là điểm sách về nhiều bài và nhiều chương quan trọng trong sách rồi, nên tôi không lặp lại nữa. Phần lời bạt của Đạo hữu Trần Kiêm Đoàn cũng đã viết rất rõ về sự hình thành của Gia Đình Phật Tử Việt Nam ở trong nước, từ khi thành lập cho đến năm 1975 và Ông Đoàn cũng đã tán dương tuổi trẻ Việt Nam cũng như tinh thần học Phật, tu Phật và vận dụng Phậ
10/05/2021(Xem: 8264)
Chỉ có bốn chữ mà hàm chứa một triết lý thâm sâu ! Chỉ có bốn chữ mà sao chúng sanh vẫn không thực hành được để thoát khỏi sự khổ đau ? Nhưng cũng chỉ bốn chữ này có thể giúp chúng sinh phá được bức màn vô minh, đến được bến bờ giác ngộ, thoát vòng sinh tử !
08/05/2021(Xem: 12111)
Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.