Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Lời Giới Thiệu Nhà Xuất Bản Và Người Dịch

08/10/201520:28(Xem: 1128)
Lời Giới Thiệu Nhà Xuất Bản Và Người Dịch

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

 

Nghệ thuật sống hạnh phúc trong thế giới phiền não” được bác sĩ Howard C. Cutter tổng hợp và viết lại từ những lời dạy của đức Dalai Lama tại nhiều bối cảnh thuyết giảng khác nhau. Tác phẩm được trình bày theo một hệ thống gồm bốn phần, ba phần đầu là một tác phẩm độc lập mang cùng tựa đề tác phẩm này và phần 4 cũng là một tác phẩm bỏ túi độc lập, vì có cùng nội dung nên được gộp vào phần cuối của tác phẩm, để độc giả có thể thưởng thức hai tác phẩm trong một của đức Đạt Lai Lạt Ma.

 

Bản dịch của Tuệ Uyển - Thích Từ Đức phản ánh khá chuẩn xác nội dung, phong cách và các thuật ngữ Phậthọc của nguyên tác. Từ nhiều năm qua, các sách dịch và các bài nghiên cứu chuyên đề được Tuệ Uyển - Thích Từ Đức dịch, đã được phổ biến trên tạp chí Đạo Phật Ngày Nay, trang nhà Đạo Phật Ngày Nay và trang nhà Thưviện Phật giáo. Bác sĩ Howard C. Cutter có nhiều cống hiến trong lãnh vực tâm lý trị liệu và thần kinh học. Tácphẩm đồng tác giả với đức Dalai Lama này đã được dịch trên 50 ngôn ngữ và được phổ biến rộng rãi trên toàn cầu.

 

Phần 1 phân tích mối liên hệ giữa tôi, chúng ta và những người xung quanh. Nếu cái tôi, chúng ta và tha nhân được đánh giá trong tương quan xã hội giữa tôi, chúng ta và thanhân càng phải đồng hành để cùng góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Khi tôi, chúng ta và tha nhân không cùng các quan điểm, khác biệt về mục đích và lốisống, không chấp nhận thỏa hiệp và tương nhượng thì sự va chạm, xung đột có thể dẫn đến các đỗ vỡ hằng ngày.Ba thể loại ngôi thứ nhất “tôi, chúng ta và họ (tha nhân)” có thể chống chế lẫn nhau do thành kiến, do cái nhìn thiểncận, do va chạm cái tôi, do bất đồng chứng kiến, do tranh chấp quyền lực… vượt qua các thành kiến và lối sống íchkỷ, tôi, chúng ta và tha nhân sẽ có thể xóa thù thành bạn, vượt qua các chủ nghĩa cực đoan. Đây là điểm khởi đầucủa một thế giới bình an và hạnh phúc.

 

Phần 2 giới thiệu các chuẩn mực đối thoại nhằm đối phó và vượt qua bạo động. Gốc rễ của bạo động tồn tạitrong con người khi lòng tham, sự vô minh, tính ích kỷ, và các cảm xúc tiêu cực chưa được chuyển hóa. Những xung đột và bạo động, bất luận vì chính trị, tôn giáo hay dân sự đều do con người với lối sống tiêu cực tạo ra. Đốiphó với các hình thức bạo lực không phải là giải pháp khôn ngoan. Chuyển hóa nỗi sợ hãi, gốc rễ của hận thù, íchkỷ, có thể giúp ta và mọi người vượt qua ứng xử bạo động. Sợ hãi vừa là kẻ thù bên trong, vừa là kẻ hủy diệt bênngoài. Do sợ hãi, con người dùng bạo lực. Do sống với bạo lực, con người tiếp tục chìm trong sợ hãi. Thực tậpthiền quán và trải nghiệm trí tuệ, chúng ta sẽ được giải phóng khỏi các ức chế của sợ hãi và bạo lực, nhờ đó ta không còn là nạn nhân của chính mình và cũng không biến người khác thành nạn nhân.

 

Phần 3, như cốt lõi của tác phẩm, trình bày nghệ thuật sống hạnh phúc trong thế giới nhiễu nhương. Giáp mặt với thế giới nhiễu nhương, dù không phải là sự lựa chọn, có thể giúp ta thấy rõ được gốc rễ bất hạnh của thế giới,nhờ đó, ta có thể khắc phục được những nỗi khổ niềm đau xuất hiện trong cuộc sống. Niềm tin và tiềm năng vượt khó, niềm hy vọng vào thế giới an bình, thái độ sống lạc quan và năng động trong nỗ lực hướng thượng… sẽ là sự bắt đầu của tiến trình phục hồi hạnh phúc bị đánh mất trong thế giới rắc rối. Khi con người thấy rõ ngoài các hạnh phúc ngoại tại vốn mang tính điều kiện và chịu luật vô thường chi phối, việc nhận diện và chăm sóc những hạnh phúc nội tại sẽ có khả năng tái xây dựng lại những giá trị tích cực đã bị đánh mất. Để có hạnh phúc nội tại, trước nhất con người cần chuyển hóa các cảm xúc tiêu cực, các thái độ bi quan, các ứng xử khổ đau, đồng thời phải nhìnthấy được sự tương tác và cộng hưởng của hạnh phúc giữa ta với tha nhân và thế giới. Nhận thức tương tác sẽ giúp ta nuôi lớn sự thấu cảm, lòng bi mẫn và hành động từ bi góp phần hàn gắn các vết thương và xây dựng lại những gì đã đổ nát.

 

Phần 4 phân tích bản chất của hạnh phúc dưới dạng đối thoại về các chủ đề mà đức Dalai Lama và bác sĩHoward C. Cutter cùng quan tâm. Khác với ba phần đầu bác sĩ Howard C. Cutter trực tiếp đối thoại với đức DalaiLama để phác họa một cẩm nang cho đời sống hạnh phúc. Các thông điệp về hạnh phúc, theo tinh thần Phật dạy, đãđược đức Dalai Lama trình bày trong bối cảnh hiện đại đã được ghi lại trong các trả lời ngắn gọn về từng chủ đề. Để nắm được hạnh phúc trong tầm tay, theo đức Dalai Lama, trước nhất ta cần nắm rõ mục tiêu của đời sống và nhằmtrải nghiệm hạnh phúc. Tâm từ bi có khả năng chuyển hóa hận thù, bế tắc, khổ đau mà người thực tập nó sẽ có khả năng vượt qua các chướng ngại và bế tắc trong tương quan xã hội. Các thực tập tâm linh, bao gồm thực tập thiền, là những kỹ năng chuyển hóa tận gốc rễ của các bất hạnh.


 

 

Đọc Nghệ thuật sống hạnh phúc, người đọc sẽ có thêm sức sống mới, nghị lực mới, niềm tin mới và con đườngmới để vượt qua các bế tắc và khổ đau. Khi hạnh phúc được xem là mục tiêu, nghệ thuật sống hạnh phúc là cẩm nang sống cho mình. Chỉ khi nào mỗi người có khả năng sống với hạnh phúc, ta mới có khả năng góp phần tạo ra một xã hội hạnh phúc. Tác phẩm này tổng hợp các thông điệp hạnh phúc của Phật giáo góp phần hướng đến mộtthế giới hòa bình trên nền tảng hòa bình nội tại, sẽ là bạn đồng hành không thể thiếu đối với mọi người. Đọc,nghiền ngẫm và áp dụng các lời dạy minh triết trong tác phẩm này sẽ giúp ta sống có ý nghĩa hơn và giá trị hơn.Đây không chỉ là niềm mơ ước mà là một hiện thực. Giờ đây kính mời độc giả trải nghiệm các cẩm nang hạnh phúc đơn giản nhưng thiết thực này.

 

Giác Ngộ, ngày 16-6-2012

 

TT. Thích Nhật Từ

Tổng Biên tập

Tạp chí và Tủ sách Đạo Phật Ngày Nay


 

LỜI NGƯỜI DỊCH

 

 

“Tất cả chúng ta là giống nhau” đức Đạt Lai Lạt Ma nói như thế, nhưng giống nhau ở chỗ nào, mọi người đều muốn hạnh phúc và không ai mong đợi khổ đau. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đặt ra vấn đề và trả lời như thế. Nhưng tại sao mọi người đều muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, nhưng thế giới chúng ta lại toàn là đau khổ và đaukhổ lại là do con người tạo ra nhiều hơn cả.

 

Chúng ta mong muốn hạnh phúc, nhưng lại chỉ muốn hạnh phúc dành riêng cho chúng ta, còn những người khác với chúng ta thì sao? Những khổ đau hiện hữu là ở chỗ nào? Chúng ta chỉ muốn hạnh phúc cho chúng ta nhưng bất chấp kẻ khác. Vì họ là khác với chúng ta, dù họ vẫn là những con người, chúng ta biết thế. Nhưng chúng ta đang đi tìm hạnh phúc cho chúng ta, chứ không phải cho họ. Và họ cũng đi tìm hạnh phúc cho họ, chứ không phải hạnh phúc cho chúng ta. Và hạnh phúc của chúng ta và hạnh phúc của họ đối kháng với nhau. Chúng ta triệt phá hạnh phúc của họ, và họ triệt phá hạnh phúc của chúng ta để tìm hạnh phúc cho mỗi phía.

 

Thế là vì đi tìm hạnh phúc mà chúng ta gây khổ đau cho nhau. Đức Đạt Lai Lạt Ma từng nói rằng, nếu nói khổ đau là cái giá của nhân loại thì chúng ta sẽ trở nên dửng dưng với khổ đau của kẻ khác. Nhưng chúng ta cũng thấyrằng ngược lại, họ cũng sẽ dửng dưng với khổ đau của chúng ta. Họ là ai? Chúng ta là ai?

 

Họ là những con người, chúng ta cũng là những con người. Nhưng có lằn phân cách giữa chúng ta và họ. Họ lànhững người khác chúng ta và chúng ta là những người khác họ.

 

Có thể nói rằng tất cả các tôn giáo dù có thờ đấng tạo hóa hay không, tất cả các luận thuyết đều hiện hữu trên trái đất này để giải quyết vấn đề mà tất cả mọi người đều mong muốn: Hạnh phúc. Và hãy xét lại trong chiềudài lịch sử, tất cả đã mong đem lại hạnh phúc cho nhân loại bằng cách nào?

 

Nhưng rồi tất cả các tôn giáo, tất cả các luận thuyết lại trở thành những đối tượng để làm đổ vỡ hạnh phúc chonhau vì cái lằn phân cách ấy.

 

Cái lằn phân cách ấy là gì? Có phải là tôn giáo, là chủng tộc, là sắc thái chính trị, là địa lý?

 

Khi Arnie Domingo, đến từ QUEZON CITY, PHILIPPINES hỏi rằng:Ngài nói gì đến những người sử dụng tôn giáo như một lý do để bạo động hay giết hại?  ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA đã trả lời là: Có những người vô tội, thuần thành mà họ bị kích động bởi một số người khác mà sự quan tâm của họ là khác biệt. Sự quan tâm của họ không phải là tôn giáo mà là quyền lực hay đôi khi là tiền tài. Họ kích động niềm tin tôn giáo. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta phải thực hiện một sự phân biệt: Những điều xấu xa này không là duyên cớ bởi tôn giáo.


 

 

"Khi nhấn mạnh sự hòa hợp giữa các tôn giáo và kêu gọi tất cả các nhà lãnh đạo tôn giáo vượt lên trên những giáo điều và tiếp cận với tất cả mọi người, Đức Dalai Lama nói rằng giết chóc trong danh nghĩa của đức tin là"khủng khiếp"."

 

Văn sĩ-Lý thuyết chính trị gia Hannah Arendt đã nói về Sự Độc Ác Vô Vị (The Banality of Evil) thế này: "Luận điểm cho rằng những kẻ độc ác tầm cở trong lịch sử nói chung, và vụ diệt chủng người Do Thái nói riêng không phải được tiến hành bởi những kẻ cuồng tín hay rối loạn nhân cách chống đối xã hội (sociopaths), nhưng đúng hơn là bởi những người bình thường chấp nhận những tư tưởng tiền đề của quốc gia, tôn giáo hay đàng phái của họ và tham gia với nhận thức rằng những hành động của họ là bình thường." Như vậy những gì ''là bình thường'', hay có thể  cả là thiêng liêng đối với một số người như đã được ra rã nghe mãi ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, rồi cả hàng chục năm, hàng trăm năm,hay thậm chí cả nghìn năm thì đối với những người khác là"khủng khiếp" là "Sự Độc Ác Vô Vị ".

 

Cũng theo bản tin ngày 20.07.2012, "một thanh niên Tích lan được mướn làm người phục vụ trong nhà bị bắt tại Saudi Arabia vì đã lễ bái tượng Phật, là điều được xem là tội hình sự theo luật Shariah.Theo tổ chức Bodu Bala Senaa, thanh niên này mang sổ thông hành số 2353715 và được nhận dạng là Premanath Pereralage Thungasiri, đã bị cảnh sát Umulmahami bắt giữ. Theo tin tức tổ chức Bodu Bala Senaa nhận được về vụ án này thì thanh niên Tích lan này sẽ bị chém đầu. Mặc dù bản kháng án đã được đưa lên văn phòng Nhân sự ngoại quốc tại Battaramulla, cho đến nay vẫn chưa có điều gì được thực hiện."

Một nhà cách mạng Pháp trước khi lên đoạn đầu đài đã than rằng, ôi nhân danh cách mạng mà người ta đã giết hại bao người. Nếu thay hai chữ "cách mạng" bằng hai chữ "tôn giáo" thì những cuộc Thập Tự Chinh, những cuộcThánh Chiến,... trong thời Trung Cổ, những lời kêu gọi Thánh Chiến trong thời hiện đại, ... các cuộc thế giới chiếntranh,... những cuộc tàn sát vì chủng tộc như của Hitler đối với người Do Thái, của người Hutu đối với ngườiTutsi, và lạ thay có cả vụ tàn sát người đồng chủng như Polpot ở Campuchia,... bao nhiêu người đã chết vì chiến tranh tôn giáo, bao nhiêu người đã chết vì chủng tộc, bao nhiêu người đã chết vì các cuộc lật đổ mang danh thay cũ đổi mới. Bao nhiêu người đã khổ đau vì những thứ ấy? Có phải tất cả đều nhân danh hạnh phúc? Và cho đến bây giờ thứ nào đã đem lại hạnh phúc chân thật cho con người mà không gây khổ đau cho kẻ khác?  Dù biết rằng đi tìm hạnh phúc, đi mang lại hạnh phúc, và để hưởng thụ hạnh phúc không phải là vấn đề đơn giản, nhưng có phải vìthế mà dẫm đạp lên hạnh phúc của kẻ khác để mang lại hạnh phúc cho chúng ta, và rồi người khác đi tìm hạnhphúc sẽ làm thế nào?

 

Làm thế nào để có hạnh phúc khi chúng ta và người ta cùng đi tìm hạnh phúc? Chúng ta và người ta cùng là những con người cùng có cùng mục tiêu đi tìm hạnh phúc. Thế thì mặc dù nói là đi tìm hạnh phúc những chúng ta đang gây thảm họa, phá hoại hạnh phúc của nhau.

 

Vậy thì bao giờ chúng ta có hạnh phúc khắp nơi trên trái đất này? Chúng ta có thể thấy những từ ngữ như“Tịnh độ nhân gian”, “Thiên đàng tại thế” hay những cõi "Thiên đàng hạnh phúc miên viễn" nào đấy v.v... những mong ước mà trong tôn giáo cũng như những nhà cai trị đã đề cập bao giờ chúng ta có được? Thật sự nếu tạinhân gian, tại thế gian, tại trái đất này, nếu chúng ta muốn mang lại hạnh phúc cho chúng ta, nhưng chà đạp hạnhphúc kẻ khác, gây khổ đau cho kẻ khác thì chúng ta sẽ có một chỗ ở Cực lạc, Niết bàn hay Thiên đàng không, haychúng sẽ được hưởng hạnh phúc vạn tuế trên trái đất này không?

 

Nói bao la thế giới thì chúng ta chẳng biết dựa vào chỗ nào để tìm hạnh phúc, nhưng như bác sĩ Howard C. Cutler, thì ít ra chúng ta cũng có một cơ sở, một điểm khởi đầu để đi tìm hạnh phúc trong thế giới phiền não này,đấy là những phương pháp thực tiễn của đức Đạt Lai Lạt Ma đã chỉ ra trong những quyển sách Nghệ Thuật Hạnh Phúc mà cụ thể trong quyển sách này Nghệ Thuật Hạnh Phúc trong Thế Giới Phiền Não.

 

Ẩn Tâm Lộ ngày 30/11/2011

 

Tuệ Uyển

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/01/202110:11(Xem: 189)
Phật Vàng (Golden Buddha) có tên chính thức trong tiếng Thái là “Phra Phuttha Maha Suwana Patimakon”, nặng 5,5 tấn. Sau nhiều lần di chuyển, pho tượng hiện đang nằm trong đền thờ Wat Traimit, Bangkok, Thái Lan. Hiện tại, mặc dù các học giả vẫn chưa xác định chắc chắn nguồn gốc của pho tượng là bắt nguồn từ thời gian nào. Nhưng dựa theo cấu trúc của phần đầu bức tượng (hình quả trứng), thì có thể đoán rằng, nó ra đời vào dưới triều Sukhothai vào thế kỷ 13 – 14 – một trong những giai đoạn nổi tiếng nhất của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Thái Lan.
03/01/202118:44(Xem: 265)
Một Số Danh Tăng Việt Nam Tuổi Sửu Thiền sư TRÌ BÁT (Kỷ Sửu 1049) Thiền sư TỊNH THIỀN (Tân Sửu 1121) Hoà thượng THÍCH ĐẠT THANH (Quý Sửu 1853) Hoà thượng THÍCH GIÁC NHIÊN (Đinh Sửu 1877) Thiền sư THÍCH CHƠN PHỔ - THUBTEN OSALL LAMA (Kỷ Sửu 1889) Hoà thượng THÍCH BỬU LAI (Tân Sửu 1901) Hoà thượng THÍCH THIÊN ÂN (Ất Sửu 1925) Hoà thượng THÍCH MINH THÀNH (Đinh Sửu 1937)
03/01/202118:40(Xem: 213)
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Với một nước nông nghiệp như nước ta, hình ảnh con trâu nặng nề lầm lũi, kềnh càng cục mịch luôn gắn bó với những cánh đồng thửa ruộng, thân thiết với bao người nông dân chân lấm tay bùn, và gần gũi với lũ trẻ mục đồng thường nghêu ngao bài hát quen thuộc “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!”… Không chỉ như thế, trâu cũng đã từng gắn bó với cuộc đời một vài danh nhân lịch sử như Đinh Bộ Lĩnh, Đào Duy Từ… Đối với nền văn học nước nhà, con trâu còn có cái công rất lớn trong việc làm phong phú ngôn ngữ, nhất là trong ca dao- đồng dao-tục ngữ.
01/01/202111:17(Xem: 271)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/202110:50(Xem: 232)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/202021:36(Xem: 288)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/202021:03(Xem: 215)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/202008:57(Xem: 270)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/202008:20(Xem: 219)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/202011:16(Xem: 306)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.