Quét Lá Dọn Tâm

07/06/201505:22(Xem: 17987)
Quét Lá Dọn Tâm

quet la da 3


Quét Lá Dọn Tâm
Quảng Chơn Thiên Hương




 


Tối qua con bé cháu nội 3 tuổi nhảy lên lòng, hai tay úp chặt quyển sách vào mặt nó rồi nói : Đố bà nội tìm thấy bé.    Bà nội bày đặt nói: Ủa bé đi đâu mà bà nội tìm không thấy.  Nó cười ngặt ngoẹo, làm bà nội phải ôm chặt nó cho nó khỏi té.  Nó lại tiếp tục:  Bà nội tìm đi, tìm coi bé trốn ở đâu.  Rồi lại úp kín mặt vào cuốn sách.  Bà nội nói không biết nó trốn ở đâu là nó lại cười.  Cứ thế mà nó kéo cả 20 phút chưa chán. Thấy nó cười nhiều quá, bà nội phải chịu thua, nó nói bé trốn trong quyển sách.  Nó lấy quyển sách ra rồi lại líu lo. Bé trốn trong quyển sách mà bà nội tìm không thấy, rồi nó cười như nắc nẻ.  Tiếng cười trong vắt thì thôi. 

Tiếng cười ấy theo bà nội vào cả giấc ngủ, và cả ngày hôm sau.  Trẻ con thật ngây thơ, vui với tầm hiểu biết của mình.  Không thấy là coi như không có, chẳng cần tìm hiểu gì sâu xa.  Người lớn mệt mỏi hơn con nít vì ngoài công việc lại còn để tâm tới quá nhiều thứ.  Sáng vô sở đã lo chiều về có mưa không.  Làm việc dành dụm mua xe, mua  xe xong chiếc xe lại ngó tới cái nhà.  Mua cái nhà nhỏ lại thấy hàng xóm có cái nhà to hơn, vậy là ấm ức.  Không chú tâm hoàn toàn vào việc đang làm, đầu óc cứ nghĩ lung tung thành ra làm việc đâm ra không chu đáo.  Chưa kể cứ đứng núi này trông núi nọ nên chẳng cảm thấy thư thái tí nào.

Hì hì... chẳng lẽ bây giờ muốn vui cứ nhắm chặt mắt, đừng nhìn ngó để khỏi thấy những điều chướng tai gai mắt cho lòng nó thanh thản... Chắc tại vậy mà mấy người tu hành phải tìm chỗ tĩnh mịch cho khỏi xao động cái tâm. 

Nhưng mà tôi không muốn vô núi ở, cũng chẳng muốn chỉ làm bạn với chim muông cho đầu óc nó nhẹ nhàng.  Chẳng lẽ đang sống trong thành phố lại muốn bắt chước ba con khỉ bưng mắt bịt miệng che tai[1]… Khổ nỗi cái miệng còn ham ăn ham nói.  Cái tai còn thích nghe chuyện tào lao, nghe các bản nhạc vàng,… Cái mắt còn ưa láo liên ngắm lá rụng, mây bay, coi phim Hàn quốc, đọc email, lướt Facebook.  Vậy mà đòi tâm thanh thản, coi bộ khó dữ ta.

Sáng nay cuối tuần, lại ra quét sân.  Vào những ngày mùa thu lá rụng rất nhiều.  Có hôm lá ướt sũng vì những cơn mưa đêm.  Có hôm rất lạnh, có hôm lại nắng rất nhẹ nhàng.  Mà chợt nhận ra mình đã là lạ, dạo này không thấy làm biếng lúc phải đi quét sân.  Mỗi khi nhìn lá đầy sân cũng không thấy bực bội. Tại càng lớn tuổi, tính đã thuần đi, hay tại vì ... quen mắt nhìn cái sân đầy lá?

Ngày xưa, lúc còn nhỏ, trước nhà là một khoảng sân trống.  Ở dãy cư xá năm căn, mỗi căn có một cây thông.  Tới mùa lá rụng, những cây này xôn xao đổ lá.  Lúc ấy, tôi còn là con bé con nhỏ  tí xíu chiều đến hay rủ mấy cô bé hàng xóm  ra quét lá thông.  Lá rụng nhiều chừng nào vui chừng đó, quét đi lại thấy lá đầy sân, lại quét.  Cho tới khi trời sẩm tối, mới vun lại, bắt đầu đốt.  Mùi lá thông thơm nồng khen khét, những ngọn lửa cháy làm ấm cái không khí se lạnh của Đà lạt lúc chiều tàn…  Lúc ấy, không thấy mệt, chỉ thấy háo hức và vui…

quet la da


Có những lúc quét lá trong sân, chợt nhớ hai chị em chạy lăng quăng hốt lá trong đêm gió lạnh trong truyện Nhặt Lá Bàng của Nhất Linh ngày xưa … Gió lên, lạy Trời gió nữa lên…  và chợt mỉm cười, thấy mình thua mấy đứa bé ấy, lúc quét thấy lá cứ rơi bực lắm, vì quét đi quét lại vẫn còn lá.  Vừa mất thì giờ, vừa quét mãi chẳng thấy sạch.  Bởi vậy mỗi cuối tuần, chưa quét đã làm biếng.

Dạo này thì không vậy, thích ra quét sân, trong lúc quét sân lại hay nghĩ miên man đủ thứ chuyện.  Những câu chuyện quét lá lại là những câu chuyện nhớ đến nhiều nhất.

Chuyện về một tiểu hòa thượng quá mệt mỏi vì đến mùa lá rụng, quét ngày trước, sáng sau lại ngập đầy sân.  Chú đi khắp chùa nhờ mọi người chỉ cách nào chỉ quét hôm trước, ngày hôm sau sân sẽ vẫn sạch.  Hòa thượng chỉ chú cứ quét cho thật sạch tất cả mọi chỗ, ngày sau sẽ hết lá.  Chú mừng lắm.  Hôm ấy chăm chỉ quét, dọn khắp ngóc ngách không còn chiếc lá nào.  Cả ngày hưng phấn nghĩ đến hôm sau sẽ không phải quét lá.  Sáng sau, ra vườn vẫn thấy lá ngập đầy.  Chú vào gặp Hòa thượng.  Hòa thượng bảo ngài đưa ra ý đó, để chú có thể nhận thấy là dù chú có cố gắng thế nào, lá rụng vẫn rụng.  Và dù chúng ta có chuẩn bị thế nào, chuyện gì xảy ra vẫn xảy ra.  Chỉ có thể đón nhận nó với một tinh thần tích cực mà thôi.[2]

Ah, cán chổi chợt ngừng lại, tôi nhìn khung trời mới âm u đó, đã ửng nắng… Chợt nghĩ đến qui luật của thiên nhiên.  Mùa thu, lá rơi cứ rơi.  Mùa đông trời lạnh cứ lạnh.  Mùa hè, nắng nóng cứ nóng, mùa xuân, hoa tươi lại đua nở… Thời tiết cứ xoay vần, qua thời kỳ lạnh lại đến nóng, đồng hồ vặn lên một giờ, sau mấy tháng lại vặn trở lui một giờ[3]. Bởi vậy than van mần chi khi trời mùa đông lạnh, than rồi trời cũng chẳng ấm cho.  Hết đông sẽ lại ấm, mùa xuân đến lại trăm hoa đua nở.  Than nóng trời cũng chẳng mát bớt, vài tuần cái nóng lại dịu đi, và rồi những chiếc lá vàng mùa thu lại bay lượn giữa đất trời.

quet la da 2

Lúc này, tôi đang quét sân.  Vừa quét sạch xong mảnh vườn, hốt xong đống lá, quay trở lại sân đã lại thấp thoáng những chiếc lá vàng.  Ngày trước thấy thế, tôi lại loay hoay quét tiếp.  Bởi vậy kéo dài thời gian cong lưng, mòn cổ.  Tới lúc rã rời mới buông chổi, vào nhà mặt mũi tươi gì cho nổi.  Bữa nay, tôi mặc kệ.  Đã quét xong rồi, lá rơi để đó đợi đến đợt quét lá tiếp theo…  Làm biếng đấy, nhưng lại thấy mình ngộ ra…  Hình như có một bài viết nào đó cũng nói đến một cư sĩ, mỗi khi quét xong lá lại phủ đầy, ông mặc kệ vì nghĩ rằng mình đã làm đủ rồi, và điều quan trọng là mình thấy “ngay hạnh phúc trong công việc mình làm” [4]

Một lần nào đó tôi cũng đọc được câu chuyện về một cậu bé quét lá trước sân để đón khách, quét đi quét lại sạch bóng nhưng Thầy vẫn nói chưa đạt.  Cậu bé bực mình rung một cành lá.  Những chiếc lá rụng rải rác trên sân.  Lúc ấy thày mới nói đã đạt.  Khách tới, chủ và khách cùng thoải mái. 

Lúc ấy tôi đọc mà không hiểu.  Bây giờ trong lúc quét lá hình như tôi mới ngộ ra điều gì đó.  Theo Phật học thì “hãy xem lá đa rụng ở vườn chùa như là những phiền não tham lam, sân hận, si mê nơi chính vườn tâm mình. Quét lá và rác rưởi cũng chính là quét đi những cấu bẩn của tự tâm: không để cho bất cứ một ngọn lá hay một cọng rác nhỏ nào sót lại thì mới tạo ra được một khu vườn sạch đẹp.” và “Lá không phải là chỉ rơi trên mặt đất, mà lá còn rụng trong tâm của chúng ta. Nhặt lá rơi trong lòng, hẳn có lúc sẽ sạch.”[5]

 

Nhưng mà mùa thu, lá rụng miên man, quét bao giờ cho sạch.  Khăng khăng phải để vườn lúc nào cũng không có bóng một chiếc lá rơi là một điều không thể.  Cuộc đời cũng vậy, khăng khăng tìm những điều thật toàn hảo, những người thật toàn hảo cũng là điều không thể.  Khách đến chơi, không mong điều toàn hảo.  Chủ và khách gặp nhau thật tự nhiên, trong khung cảnh tự nhiên.  Vun vén quá lại thành ra giả tạo.  Tại sao cứ phải cố tạo một điều toàn hảo, vì đó là điều không thể. Lại nữa, khi không đạt được cái mình muốn thì lại bực bội loay hoay, để rồi mất đi cái an vui tự tại.  Quét sạch lá rụng không có nghĩa phải có một khu vườn sạch như ly như lau, chỉ là dẹp đi những cái rác rưởi trên đường, trong lúc cũng dọn sạch những xao động trong tâm.  Cuộc sống luôn có những điều không vừa ý, chỉ cốt tâm an là được.

 

Tôi cũng chợt nhận ra tại sao thơ Hai-ku[6] lại là thơ thiền.  Vì thơ Hai-ku không dính tạp chất.  Chỉ thuần túy vẽ lên những gì đang xảy ra, như một bức tranh tĩnh.  Tôi như thấy mình trong bức tranh nào đó, đưa những nhát chổi nhẹ nhàng lùa đi những rác rưởi, và rồi những khoảng sân đã sạch lại bắt đầu thấp thoáng những chiếc lá vàng .  Nhưng bàn chân vẫn tiếp tục đi về phía trước, không quay ngó lại đằng sau …  Lòng nhẹ đi, thanh thản…  Đó có phải là chánh niệm, chỉ biết phút giây này, không hoài niệm quá khứ không dáo dác ngóng tương lai.  Đã làm, đã cố gắng  và vui với cái đã có, đã thành tựu…  Không nghĩ đến những cái mất đi, không nghĩ đến những gì vượt khỏi tầm tay, biết đủ là đủ như bốn chữ tri túc tiện túc [7]của Nguyễn Công Trứ đã học ngày xưa.

 

Và như thế, tôi sẽ như đứa bé chỉ sống với thế giới nhỏ nhoi quanh mình, chỉ thấy những gì trước mắt mà vui.  Trời đã quang hơn, ngày hơi ấm dần.  Tôi nhìn mảnh sân sạch đã loáng thoáng những chiếc lá vàng khẽ mỉm cười.  Lá ơi, nằm đấy đợi lần quét rác tới nhé, bây giờ tôi cất chổi đi, việc quét lá đã xong rồi, tôi đi làm chuyện khác thôi…

 

Thiên Hương

Melbourne - Tháng 6 - 2015

 

 

 

 

 

 

 

 


[1] Ba Chú khỉ khôn ngoan – Không Nghe – Không Thấy – Không Nói

Three Wise Monkeys – "see no evil, hear no evil, speak no evil"  - http://en.wikipedia.org/wiki/Three_wise_monkeys

[2] Câu Chuyện Quét Lá - http://www.hanhhuongdulich.com/truyen-tho-van-h/cau-chuyen-quet-la.html

[3]  Điều chỉnh lùi lại một giờ trong mùa hạ, khi ngày dài hơn mùa đông, và lên một giờ trong mùa đông khi ngày ngắn đi  – Daylight Savings 

[4]Có một vị giáo thọ cư sĩ Tây Phương kể lại nhiều năm trước ông có sang Thái Lan và vào xin xuất gia tại một tu viện trong rừng. Ông được giao cho phận sự quét lá trên con đường dài nhỏ dẫn vào thiền đường. Vì tu viện nằm ở giữa rừng nên lá đổ quanh năm. Ông kể, vừa quét được nửa đường, khi nhìn lại quảng đường vừa quét xong, lá đã rơi xuống phủ đầy. Nhưng mỗi ngày, ông vẫn cứ tiếp tục làm công việc của mình, vì ông ý thức được rằng, công việc của ta làm tự nó là đầy đủ rồi. Ông biết rằng đó là một sự thực tập: có ngay hạnh phúc trong những việc mình làm.”

http://thuvienhoasen.org/a16199/nga-giua-ngan-hoa-thu-nguyen-duy-nhien


[5] “Lá không phải là chỉ rơi trên mặt đất, mà lá còn rụng trong tâm của chúng ta. Nhặt lá rơi trong lòng, hẳn có lúc sẽ sạch.”
http://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1046822512013095&id=827297857298896

[6] Tôi Tập Làm Tơ Hai-Ku – Thiên Hương

http://www.tuvienquangduc.com.au/tho/227thohaiku.html

[7] "Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc. Tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn"

       2 câu thơ  trích trong bài thơ "Chữ Nhàn" của Nguyễn Công Trứ

 



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 20093)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17339)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14839)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16585)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12634)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11531)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11986)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7867)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9010)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8103)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.