Tu học và những nỗi sợ

10/01/201509:52(Xem: 12183)
Tu học và những nỗi sợ
nguyengiacphantanhai

 

Tôi vẫn có nỗi lo, đúng ra, đây là nỗi sợ. Nỗi sợ đó thế này: sẽ có một lúc tôi chết bất ngờ, và rồi tức khắc dòng nghiệp thức sẽ bị kéo trở lại Việt Nam cho một kiếp kế tiếp. Bởi vì, không một ngày nào trong đời, tôi không nghĩ về Việt Nam. Không phải nghĩ về một lần hay một buổi, đôi khi suốt ngày không rời ý nghĩ về quê nhà.

Tôi từng có nỗi lo đó về một số bằng hữu, nhưng ở hoàn cảnh khác. Như trường hợp một nhạc sĩ bạn thân, từng nói rằng từ buổi sáng thức dậy cho tới thật khuya, kể cả khi nằm chờ giấc ngủ, những dòng nhạc  cứ âm vang mãi trong đầu anh. Tôi nghĩ, thế rồi làm sao giaỉ thoát nhỉ. Bởi vì, nhỡ khi anh đứng tim chết bất ngờ, anh có thể thác sinh tức khắc vào một gia đình có truyền thống âm nhạc nào đó.  Vì tâm dẫn theo các pháp. Và do vậy, những dòng nhạc sẽ dẫn anh đi. Tôi đoán như thế, theo kiểu suy luận phổ biến.

Trường hợp sức mạnh thơ, văn cũng thế. Tôi làm thơ, viết văn… nhưng thực sự không mê. Luôn luôn biết làm biếng, và thường thì làm biếng. Có khi, một năm mới viết một truyện cho báo xuân; và đó cũng là bị hối thúc, bị níu kéo, thường khi cũng hiểu là trách nhiệm. Nhưng tôi biết nhiều bạn văn, bạn thơ… rất thường khi trong tâm họ ngày đêm khi khởi lên những dòng thơ, dòng văn. Tôi lo sợ cho các bạn văn, vậy rồi không lẽ để thơ văn kéo mình trôi mãi sang kiếp sau…

Tôi biết mình không rời khỏi ý nghĩ về quê nhà. Nhưng cao điểm là khoảng gần giữa năm ngoái, khi giàn khoan HD-981 của Trung Quốc kéo vào Biển Đông, và rồi vài chục tàu Hải giám của Việt Nam ra vây hàng ngày. Tôi đọc đủ thứ tin, theo dõi diễn tiến Biển Đông, thường khi quên ăn, quên ngủ. Hễ  về nhà là mở TV, dò đủ thứ kênh. Và rồi, tôi khám phá ra ba đài nói tiếng Anh lúc đó thường xuyên nói về Biển Đông, có thể bắt sóng được qua antenna ở vùng Quận Cam, California. Cả ba đài đều phát sóng 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần, và là các đaì quốc doanh của ba chính phủ, do vậy không hề có quảng cáo chen vào, hoặc khi có thì rất ngắn.

Đài tôi thích xem nhất là Đài Nhật Bản NHK 28.4, bênh Việt Nam ra mặt, tin loan đều mỗi giờ, hoàn toàn không quảng cáo. Thứ nhì là Đải CCTV 31.9 của Trung Quốc, hễ xem có khi bực mình vì các thầy bàn trên đài này thường khi hung hăng sỉ vả Việt Nam vô ơn và vân vân. Đài tôi ưa xem khác là Đài Arirang 44.5 của Nam Hàn, cũng tập trung nói về Biển Đông thời gian đó, nhưng phiền là chương trình ca nhạc nhiều quá.

Nhiều khi đang ngủ, đột nhiên chồm dậy, tôi lại ra mở NHK để xem, hay bật máy tính lên dò tin… vì lo sợ quê nhà đang nguy biến. Những giây phút đó, tôi lo sợ suy nghĩ, nếu lúc này mình đứng tim chết, hẳn là sẽ tức khắc tái sinh ở Việt Nam. Mới biết, giải thoát là chuyện cực kỳ khó, bởi vì cho dù trước giờ tự đánh giá mình là người mê tu 24 giờ/ngày, tôi vẫn không thoát nỗi những biến động ở Biển Đông, và rất nhiều khi đọc tin quê nhà mà không ngăn được nước mắt.

Tôi cũng có một số nỗi lo khác, nhưng không mạnh bằng chuyện giàn khoan. Tôi sợ những đam mê của mình sẽ dẫn mình sang kiếp sau, nếu bây giờ không tu tập giải thoát nổi. Trước tiên là mê đọc. Tôi có thói quen từ nhỏ là mê đọc sách, và hễ có cơ hội là đọc ngày, đọc đêm. Nỗi lo là: nhỡ mình không giải thoát được, rồi cứ nửa đêm lại về bàn vong nhà chùa bật đèn để tìm kinh sách đọc. Nỗi lo này mơ hồ thôi, vì thực ra thói quen đọc đã kiểm soát được nhiều rồi.

Nhiều thập niên trước, có một lần tôi thưa với Thầy Tịch Chiếu, Chùa Tây Tạng Bình Dương, rằng có phải tông chỉ Thiền chỉ đơn giản là vô niệm, cũng gọi là vô tâm. Đó là một buổi chiều, chỉ có hai thầy trò ngồi uống trà. Thầy nhìn vào mắt tôi, cười rồi nói, không phải, nhưng con đừng đọc sách nữa.

Đọc là một hành vi tuyệt vời của nhân loại. Hẳn nhiên, không có nghĩa Thầy bảo đừng đọc. Bởi vì, thời chưa có chữ là phải nghe, do vậy thời có chữ tất phải đọc. Ngài A Nan được ca ngợi là đa văn, là người nghe nhiều; thời này, nên hiểu việc tu học là nên đọc nhiều. Vì nếu không đọc, làm sao biết Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo là gì.

Tôi lo sợ khi nghe một số vị sư khuyên là nên ngồi thiền thật nhiều, đừng nên đọc. Một số thầy khác nói, chỉ cần niệm Phật cho nhiều, và chớ nên đọc vì sẽ loạn tâm. Nếu cứ mãi như thế, Phật Tử sẽ có lúc bị kẻ lạ chiêu dụ đi mất, vì không đọc, tất sẽ không biết gì là Đạo Phật để ở lại trong ánh sáng Phật Pháp.

Để nói về việc đọc. Khi chê việc đọc là hành vi của con vẹt, nghĩa là sợ vướng vào bẫy của ngôn ngữ viết, sao không sợ rơi vào ngôn ngữ nói. Vì đọc hay nghe cũng là qua ngôn ngữ, không hiểu đạo sẽ dễ té vì nơi nào cũng là cạm bẫy. Khi Thầy tôi nói chớ đọc sách nữa, chỉ có nghĩa là chớ đọc chữ nữa, mà hãy đọc tâm của mình, vì đây mới là việc nên đọc.

Khi nhìn vào tâm mình, chúng ta thấy gì? Trước tiên, bạn sẽ thấy chữ biến mất. Bạn hãy thử nhìn vào tâm xem, sẽ thấy tất cả chữ đều biến mất. Chính ở nơi đây, ý nghĩa Thiền Tông mới hiển lộ. Đó mới là ý nghĩa đọc kinh vô tự, kinh không chữ. Ngay khi lặng lẽ và tỉnh thức tự nhìn tâm mình, bạn sẽ thấy ngay trước mắt đó là pháp môn không có cửa vào, đây là Vô Môn Quan, đây là con đường không có lối đi.

Hãy lặng lẽ và tỉnh thức tự nhìn tâm mình, khi tất cả những rừng chữ nghĩa biến mất, khi tất cả những ngày hôm qua và ngaỳ mai biến mất, khi hoàn toàn không thấy còn gì để buông và nắm nữa, chính ngay khi đó chính là cái rất mực tươi mới, cái chưa từng được biết, đây là cái hiện tiền, đây là dòng sống, trước mắt bạn giây phút đó là cái hạnh phúc vô cùng vô tận, cái không thăm dò nổi, và vì là cái chưa từng được biết nên còn gọi là cái khoảnh khắc vô ngã, cũng là cái Không Rỗng Rang như Đức Phật đã giải thích. 

Gọi cái bạn đang nhìn vào tâm đó là cái chưa từng được biết bởi vì (trong dòng sống vô thường này) ngay khi cái bạn vừa biết là lập tức biến dạng vào quá khứ, ngay khi cái bạn đang thấy đã lập tức biến thành cái đã thấy, ngay khi cái bạn vừa mới đã nghe là lập tức biến thành cái đã nghe. Cái  bạn đã thấy, đã nghe, đã biết có thể lưu được vào chữ. Nhưng cái bạn đang thấy, đang nghe, đang biết sẽ luôn luôn là cái sinh động của đời sống -- trước mắt, bên tai, quanh bạn và hiện ra trước khi có chữ. Đó chính là như Đức Phật dạy, trong cái thấy chỉ là cái được thấy, trong cái nghe chỉ là cái được nghe. 

Đứng trước cái nhìn vào tâm như thế, chúng ta sẽ thấy như chư tổ nói rằng đây là chỗ ngôn ngữ vắng bặt. Vì không hề có chữ nào diễn tả được cái Không Rỗng Rang trước mắt như thế được. Ai cũng có thể tự nhìn tâm như thế.

Chúng ta có thể nhớ ra  một chuyện xa xưa về Thiền Tông. Nếu chỗ này nhớ sai, hãy nên xem như là chuyện mang máng như thế. Một nhà sư sau mấy năm tu trong chùa, vẫn hoang mang, chưa biết cách an tâm, nên tới gặp Thiền sư trụ trì và trình, xin Thầy chỉ cho con tỏ ngộ bản tâm. Thiền sư liền lấy gậy đánh lên vai một cái đau điếng. Nhà sư học trò chính giây phút đó mới hiểu, thấy rằng cái làm cho mình đau điếng đó chính là cái bản tâm hiển lộ ra, và cái cảm thọ đau điếng đó xa lìa tất cả chữ nghĩa. Nó chính là dòng sống, là cái chưa từng được biết. 

 

Và ngay khi sư nhận ra cái đau đó, cái cảm thọ đó không phảỉ là cái chụp bắt được, nó chính là dòng sông trôi tuột trên tâm và biến đổi không ngừng. Nó chính là cái Vô Thường, cái không chụp bắt được vì nó là cái hiện nay và bây giờ. Và vì là Vô Thường, ngay khi cảm thọ, nó cũng là cái toàn thể, cái lìa cả ý nghĩa vô thường và thường, cái không có chữ nào mô tả được. Sống với những giây phút đó chính là Thiền Tông. Cũng là tức khắc đang tắm gội trong pháp tứ niệm xứ.

Để nói thêm về chữ. Có một lúc, tôi muốn trình bày về niệm Phật, khi một bà cụ chận tôi trước cổng một ngôi chùa và hỏi về cách niệm “Nam Mô A Mi Đà Phật.”  Tôi không biết nên nói sao cho trọn ý, nên trả lời rằng bác hãy cứ niệm đơn giản là “Nam Mô A Di Đà Phật.” Lúc đó tôi sợ sẽ có ông sư nào khó tính, cứ đòi Phật Tử niệm theo giọng Quảng Nam hay giọng Nghệ An, giọng Sài Gòn hay giọng Hà Nội… Thế hệ trẻ đâu còn nghe giỏi tiếng Việt nữa, bảo niệm làm sao cũng sẽ vất vả vậy.

Có lẽ nên nói như thế này: Rằng ngay khi người niệm nhìn vào tâm mình khi niệm chữ Nam, nếu lúc này là nhất tâm bất loạn, tất sẽ thấy ngay lúc đó là đang nhìn vào một cõi tâm chưa từng được biết tới; và rồi ngay khi niệm tiếp chữ Mô, tương tự với chữ A, chữ Di, chữ Đà, chữ Phật -- tất cả những biến đổi của dòng sống đang trôi chảy trước mắt, của dòng âm thanh trôi chảy qua tai… khi chữ Nam âm vang, rồi chữ Mô âm vang… thực ra đó là cõi tâm rất mực thanh tịnh.

Chính nơi các chữ đó, nơi các khoảng giữa các chữ, nơi âm vang và nơi lặng lẽ giưã các âm… đó chính là tâm thanh tịnh vô lường. Hãy nhìn vào tâm, sẽ thấy đó là cái vô cùng vô tận, cái không hề có chữ nào thực sự hiện hữu hết…Đó là chuyện chớ đọc chữ, mà hãy đọc tâm. Đúng ra, không có gì ở tâm để đọc, đó mới thật sự là đọc. Ai cũng có thể nhìn như thế được, không có gì bí ẩn cả.


Cũng để nói thêm về đọc. Hồi thời học thi Tú Tài, tôi chơi với một nhóm bạn ưa tới Chùa Xá Lợi để ngồi học thi. Có một cuốn sách, truyện dịch, được bọn học trò chúng tôi, hầu hết là Chu Văn An, mê kinh khủng. Cuốn này, bản Việt ngữ, tôi còn nhớ tên là “Chân Dung Nàng Thơ” của tác giả Robert Nathan. Không nhớ ai dịch. Nhưng vẫn nhớ bản gốc Anh ngữ là  “The Portrait of Jennie.”

Theo tôi nhớ mang máng, cốt truyện thế này. Cuốn tiểu thuyết mỏng này kể về một họa sĩ Hoa Kỳ, thuộc loại nghệ sĩ đói kinh khủng, ra một công viên trong mùa tuyết để vẽ, hy vọng sẽ có một tấm tranh phong cảnh có thể bán được. Chàng họa sĩ này gặp một cô thiếu nữ ngồi giữa công viên tuyết. Chàng hỏi cô bé tên gì, cô bé nói là Jennie.

Khi chàng hỏi cô bé từ đâu tới, cô đọc mấy câu thơ, nội dung là chẳng từ đâu tới và sẽ chẳng đi về đâu. Ngôn ngữ cô bé bí hiểm như kiểu văn học thiền. Thế rồi, thay vì vẽ phong cảnh, anh họa sĩ vẽ cô bé. Mấy hôm sau ra công viên, lại thấy cô bé, nên vẽ tiếp, nhưng chàng kinh ngạc thấy cô như già đi vaì năm. Làm sao chỉ trong vài ngày lại già đi vài năm? Cuối truyện, chàng khám phá ra cô bé là một phụ nữ chết chìm tàu. Truyện như mơ, như không có thật. Nhưng tấm tranh vẫn là có thật. Truyện này bản dịch Việt ngữ hay kinh khủng lắm.

Lúc đó, tôi ước mơ phải chi sau này giỏi tiếng Anh, tôi sẽ tìm bản gốc để xem cái hay của văn chương Hoa Kỳ. Đó là lý do lúc đó, tôi học thuộc lòng tựa sách và tên tác giả. Cùng lúc, cũng là mê một vài tác giả khác. Nhưng khi sang Mỹ, hoàn toàn không còn thì giờ để tìm cuốn sách đó nữa. Thêm nữa, phải đọc Kinh Phật (bằng tiếng Anh), và dĩ nhiên, Kinh Phật hay vô cùng vô tận; chẳng còn gì khác để bận tâm nữa.

Cách nay khoảng hơn một thập niên, một tên bạn trong nhóm bạn Chùa Xá Lợi từ Texas sang Quận Cam chơi. Tên này giỏi tiếng Anh từ thời trung học, sang Mỹ học xong y khoa và trở thành một bác sĩ nổi tiếng về nghiên cứu; đó là bác sĩ Trương Đình Luận. Tôi chở Luận xuống thành phố Laguna Beach chơi, dẫn đi xem các phòng triển lãm cả buổi chiều.  Đi lang thang qua các phòng tranh, Luận hỏi tôi có nhớ cuốn “Chân Dung Nàng Thơ” không. Tôi nói nhớ chớ, hình ảnh anh họa sĩ cũng là một lý do làm cho mình khi nào trong đầu đầy chữ, đọc mệt quá, là lấy giấy mực ra vẽ.

Luận nói, sang đây đọc bản nguyên tác Anh ngữ, thấy không hay bằng bản tiếng Việt. Tôi thú thực với hắn, rằng tiếng Anh của tôi lúc đó chưa đủ giỏi để thưởng thức cái hay văn chương của ngôn ngữ Anh, và cũng không có thì giờ, nên  chưa tìm đọc hết những gì mình muốn…Điều khám phá tuyệt vời nhờ tên bạn này là: có khi, bản dịch hấp dẫn hơn bản gốc.

Để xem, thay vì đọc và viết là Đức Phật Thích Ca, rồi sẽ có thầy nào dạy là phải đọc và viết là Đức Fật Thích Ka mới đúng. Đây cũng là một nỗi sợ lớn của tôi vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/11/2021(Xem: 12615)
Ở bên Ấn Độ thời xưa Có ông trưởng giả rất ư là giàu Nhưng mà keo kiệt hàng đầu Cho vay nặng lãi, nào đâu thương người,
19/11/2021(Xem: 8610)
Được tin quý Thầy Tuệ Sỹ, GS Trí Siêu Lê Mạnh Thát và nhiều vị tôn túc sẽ thực hiện một Đại Hội Hội Đồng Hoằng Pháp qua Zoom vào cuối tháng 11/2021, lòng con vui mừng xiết bao. Đó là những gì mà con, trong cương vị một người học Phật, đã chờ đợi từ lâu, từ rất lâu, từ nhiều thập niên, từ khi biết say mê tu học. Bản thân con không có học vị cao, duy chỉ nhiệt tâm ngày ngày tu học, tự biết rằng còn rất nhiều kinh luận cần phải đọc, cần phải học, cần phải nghiền ngẫm và cần phải chứng nghiệm, do vậy niềm vui này không thể nào kể xiết.
16/11/2021(Xem: 18497)
Hạnh phúc luôn là “KPI” của mỗi người và mỗi quốc gia. Mỗi người hạnh phúc sẽ góp phần xây nên một một quốc gia hạnh phúc. Vậy quốc gia nào hạnh phúc nhất thế giới? Hãy cùng mayvesinhmienbac.com.vn gọi tên top 10 quốc gia hạnh phúc nhất thế giới trong năm 2021 nhé!
14/11/2021(Xem: 16248)
Vào ngày 11 tháng 11 vừa qua, Cư sĩ Mã Anh Cửu, cựu Tổng thống Đài Loan và đoàn tùy tùng của ông đã thân lâm viếng thăm Phật đà Kỷ niệm quán (佛陀紀念館), và thưởng ngoạn "Triển lãm đặc biệt Con đường Hải tuyến Phật giáo & Nghệ thuật Truyền thông Mới" (佛教海線絲綢之路&新媒體藝術特展) và kịch trường tương tác 360 độ để có tự thân trải nghiệm. Sau chuyến thăm thực tế này, Cư sĩ Mã Anh Cửu nói rằng, trước đây ông đã nghe nói về cuộc triển lãm này, quả thật là "Thật tuyệt vời!"
14/11/2021(Xem: 41159)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/2021(Xem: 23213)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
12/11/2021(Xem: 16273)
Cao nguyên Tây Tạng, ngoài Bắc cực và Nam cực, là bồn chứa băng tuyết to lớn nhất, và thường được xem là "Cực Thứ ba". Tây Tạng là nguồn cung cấp nước cho một số sông to lớn nhất trên thế giới, trong số đó gồm có sông Brahmaputra, sông Hằng, sông Indus, sông Mê-kông, sông Salween, sông Hoàng hà và sông Trường giang. Các con sông đó là nguồn sống, bởi vì chúng cung cấp nước uống, dẫn nước vào các hệ thống thủy lợi, giúp việc canh tác và sản xuất thủy điện, cho gần hai tỉ người trên khắp các vùng Á châu. Nhiều băng hà trên Tây Tạng tan thành nước, các công trình xây đập và đổi hướng sông ngòi, kể cả việc phá rừng quy mô đã khiến các hậu quả tạo ra bởi thái độ tắc trách về môi trường, ngày càng lan rộng khắp nơi.
09/11/2021(Xem: 11475)
Gần đây, tôi đã nhận lời mời của đài truyền hình trực tuyến quốc nội "thử niệm" (此念) để chia sẻ về Triết lý Giáo dục “tăng trưởng cuộc sống" (生命成長), trong hàng loạt bài Triết lý Giáo dục của Tôi. Sau đây là nội dung của cuộc phỏng vấn.
09/11/2021(Xem: 20731)
Tứ Niệm Xứ là phương pháp thực hành thiền quán tập trung 4 đối tượng Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Thực hành Tứ Niệm Xứ, giúp người tu có được cái nhìn sâu sắc về vô thường, từ đó loại bỏ được những phiền não trong cuộc sống hàng ngày.
09/11/2021(Xem: 12251)
Điều đầu tiên chúng ta nhận thức vật chất, phải thông qua cơ thể của chính mình. Thậm chí có thể nói rằng, con người biết đến sự tồn tại của ý thức, thông qua cảm giác của thân thể. Ảnh hưởng của thân thể lên ý thức là điều hiển nhiên, giống như sự khó chịu và đau đớn do bệnh tật gây ra, khiến chúng ta nhận thức được sự tồn tại khách quan của tứ khổ sinh, lão, bệnh, tử.