06. Bình anh như Myanmar

28/03/201408:42(Xem: 10747)
06. Bình anh như Myanmar

Binh_an_nhu_Mien_Dien (1)Binh_an_nhu_Mien_Dien (10)Binh_an_nhu_Mien_Dien (11)Binh_an_nhu_Mien_Dien (2)Binh_an_nhu_Mien_Dien (3)Binh_an_nhu_Mien_Dien (4)Binh_an_nhu_Mien_Dien (5)Binh_an_nhu_Mien_Dien (6)Binh_an_nhu_Mien_Dien (7)Binh_an_nhu_Mien_Dien (8)Binh_an_nhu_Mien_Dien (9)

Chúng ta có thói quen, rời Hà Nội hay Sài Gòn náo nhiệt và ồn ào để về những vùng quê để đổi gió, để có được bình an. Nhiều người làm như vậy. Tôi cũng vẫn thế. Tuy nhiên cái bình an ở Myanmar khác xa so với bình an ở đất Việt. Tôi không biết tại sao.

Bạn đã được đến nước nào mà tại sân bay có đoàn âm nhạc dân tộc biểu diễn chào mừng bạn chưa. Trừ trường hợp bạn là thành viên đoàn của lãnh đạo quốc gia. Ấy vậy mà chuyện ấy xảy ra ở Myanmar. Câu chuyện là có thật. Một cảm giác nhẹ nhàng, thư thái, lâng lâng tràn dâng trong mọi thành viên của đoàn. Âm nhạc theo chúng tôi lên xe về khách sạn. Ai cũng thấy mình quá may mắn và hạnh phúc. Có người bảo, do lao động ở Myanmar được trả thấp nên họ sẵn sàng phục vụ hành khách. Người khác lại cho rằng người dân Myanmar hạnh phúc khi phục vụ, rằng họ đang mang hạnh phúc đến cho chính họ và khách phương xa. Tôi chỉ lặng im thưởng thước trọn vẹn.

Thời nay, ít đâu còn thấy xe bò, xe tay chở hàng từ máy bay về nhà chờ đợi bạn nhận hoặc chở hành lý của bạn từ nơi bạn check in ra máy bay để cất cánh. Lạ lắm. Tôi ngồi lặng lẽ ngắm những nhân viên hàng không Myanmar. Họ cần mẫn làm việc trong bình an đến lạ. Sân bay Myanmar giản đơn đến khó tin. Tất cả là thủ công. Là dùng tay. Nhưng rất nhẹ nhàng và bình an.

Khi máy bay hạ cánh tại Heho, xe kéo của sân bay kéo hết va ly, túi xách của chúng tôi ra thẳng xe bút. Thay vì chúng tôi nhận hành lý và tự xách hay đẩy ra xe. Chuyện này làm cho nhiều người đi Myanmar lần đầu ngạc nhiên. Nhưng thực ra đó là tấm lòng thôi mà: họ biết hành lý riêng đoàn chúng tôi là gần 20 kiện nên trả hết hành lý cho các khách lẻ, còn lại là đoàn Việt Nam. Họ giúp chúng tôi trong bình an và không có bất cứ đòi hỏi nào.

Đến với Bagan, chúng tôi đón nhận bình an đến lạ thường. Ngày nào cũng tôi cũng 2 lần ngắm mặt trời mọc và lặn. Trời Bagan về đêm khá lạnh. Chúng tôi mặc áo ấm để từ 3h30 lên xe ngựa hướng về ngôi chùa cao nơi đây và nhẹ nhàng trèo lên ngồi thiền sớm mai. Không khí trong lành và se lạnh. Những ánh nến được đoàn chúng tôi thắp lên ấm áp và tinh khôi. Chúng tôi im lặng ngồi thiền làm cho các bạn nước ngoài khác cũng thiền theo. Chúng tôi lễ Phật để các bạn phương tây cũng cùng lễ Phật. Chúng tôi niệm Phật và hầu như ai xung quanh cũng cùng niệm. Bình an và tràn đầy nặng lượng. Sớm mai đẹp làm sao.

Khi bầu trời ửng hồng là lúc chúng tôi im lặng nhất. Tất cả lặng im ngắm. Cả một rừng người im phăng phắc. Chợt tôi nghĩ, nếu mà ở Việt Nam hay chỉ cần có đông người Việt thôi thì quân ta tha hồ mà bình luận, chỉ chỏ, nói chuyện và… náo loạn. Ở đây ai cũng như ai: lặng im, dồn cả thân lẫn tâm thưởng thức. Bởi nếu mải bàn tán thì ai sẽ thay ta nhận bình an sớm mai.

Bình an khi mặt trời lặn. Ngắm hoàng hôn bình an lạ thường. Mặt trời đẹp kỳ lạ. Tôi ít thấy ở đâu mặt trời hiền dịu và long lanh như ở Myanmar. Cả ở Golden Rock lẫn Bagan. Cả ở hồ Inle lẫn Mandalay. Người phương tây đổ về đây hình như để ngắm cảnh và cảm nhận sự bình an. Tôi rất thích ngắm kinh khí cầu vào bình minh ngày mới nhưng cũng rất thích ngắm xe ngựa và những con đường nhỏ ngoằn nghèo đầy bụi khi trời chiều.

Tôi đã từng đi xe ngựa ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Nhưng đi xe ngựa ở Myanmar là đặc biệt nhất. Nhất nữa là ở Bagan. Những người lái xe ngựa rất hiền lành và chất phát. Họ chăm và yêu ngựa vô cùng. Tôi rất xúc động thấy họ vuốt ve ngựa. Tôi ngạc nhiên khi thấy 1 anh nằm trọn dưới 4 vó ngựa. Bình an đến lạ kỳ.

Tôi vẫn nhớ bữa tôi tặng anh lái ngựa 2 bắp ngô đầu giờ sáng. Những tưởng anh sẽ ăn. Vậy mà anh đã bẻ ra cho ngựa ăn. Bắp còn lại anh không cất đi mà bẻ ra cho những con ngựa khác cùng đoàn, mỗi chú ngựa thưởng thức 1 miếng. Chao ôi, đẹp quá. Tôi cứ ngẩn người ra mà ngắm.

Trong 13 ngày có mặt trên đất Myanmar, ở đâu chúng tôi cũng thấy bình an. Dù Yangon hay Bago, dù Golden Rock hay Bagan, dù Mandalay hay Heho. Dù chốn đông người hay làng quê thì bình an cũng lan tỏa khắp muôn nơi. Tôi biết rằng bình an đó là do các Phật tử nơi đây tạo ra. Chắc chắn là vậy.

Những ngày cuối cùng đến với chúng tôi nhanh vô cùng. Chúng tôi nghỉ ngơi trên hồ Inle trong 1 resort đẹp đến lạ thường. Hồ Inle rộng lắm, có lẽ rộng dài hơn cả Biển Hồ của Campuchia. Chúng tôi tha hồ dạo chơi và ngắm nhìn nước, chơi với chim và cá. Chúng tôi ngồi trên bến uống trà nóng và sẻ chia. Chúng tôi bước những bước chậm và bình an trên những con đường nhỏ, dưới những tán cây xanh.

Resort này có quy định, khi có khách nước nào đến sẽ kéo cơ nước đó lên. Vậy là 3 ngày chúng tôi được thấy cờ Việt Nam. Ngồi bến hồ ngắm cảnh mà thấy an lạc và tự hào. Ai cũng muốn ở thêm Inle Resort thêm vài ngày nữa.

Về đến sân bay Tân Sơn Nhất trong cái nóng đất Việt, chúng tôi nhìn nhau và hỏi nhau: Bao giờ lại được quay lại đất nước Myanmar bình an nhỉ. Ước gì mỗi năm về đó một lần.


TS Nguyễn Mạnh Hùng – Công ty sách Thái Hà



Mời đón đọc các bài tiếp theo:

7, Tượng Phật ở Myanmar

8, Kinh sách và đọc như ở Myanmar

9, Bí mật Myanmar

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14438)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20445)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17746)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15185)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 17038)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12919)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11819)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12483)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8546)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9281)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.