Lời cuối sách

27/11/201312:02(Xem: 33209)
Lời cuối sách

Tự truyện của mẫu thân Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Tác giả: Diki Tsering

Biên tập & giới thiệu:Khedroob Thondup

Nguyên tác: Cụ Bà Diki Tsering

Việt dịch: Thích Nguyên Tạng

Diễn đọc: Pt Quảng An



Lời cuối sách





Người ta có thể nói cuộc đời của bà nội tôi thật là nhiều mầu nhiệm, mà cũng có thể nói cuộc đời của bà thật giản dị đơn sơ. Một trong những tặng phẩm lâu bền nhất của bà dành cho tất cả chúng tôi là một tặng phẩm nhỏ bé, đó là món "thukpa tientu" (mì kéo). Đây là một món ăn phổ biến ở Amdo, bà thường làm món này cho gia đình của mình. Bà đã dạy cha tôi cách làm món này, ông dạy lại cho tôi, và tôi dạy lại cho con gái của mình.

Thái thịt cừu rồi nấu với một chút tiêu và muối. Phải nấu cho tới khi thịt dai, nhưng không dai quá. Nếu thịt quá mềm, chúng tôi sẽ bị mắng. Tôi đã gặp vô số vấn đề khi nấu món này cho đúng cách. Nhào bột với nước và với một chút dầu ăn, rồi kéo bột thành những sợi mì nhỏ và phẳng, rồi cho vào nồi nước lèo đang sôi, đậy nắp lại. Khi nồi mì sôi lại lần đầu tiên, lấy nồi ra khỏi lò, nếu để lâu hơn, mì sẽ mềm nát. Canh thời gian nấu mì là điều quan trọng.

Bà nội đã giới thiệu món mì này cho cộng đồng tị nạn Tây Tạng ở Ấn Độ và nó được phổ biến rộng rãi. Cho tới bây giờ món mì này gần như trở thành món ăn quốc hồn quốc túy của Tây Tạng mà chúng tôi đã có được. Mọi người đều làm món này. Tôi nghĩ rằng bà nội sẽ hài lòng vì món ăn của mình tiếp tục nuôi sống hàng ngàn người Tây Tạng mỗi ngày.

Tất nhiên cống hiến lớn nhất của bà, không chỉ cho Tây Tạng mà còn cho thế giới, là đã sinh ra ba vị lạt ma hóa thân, gồm cả một cậu bé trở thành vị Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn. Trí tuệ và tài lãnh đạo của ngài đã giúp đề cao nhân quyền và hòa bình thế giới trong năm mươi năm qua.

Khi mẹ của ngài mãn phần, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã báo tin này cho hội chúng đang tham dự tu học ở Bồ Đề Đạo Tràng. Ngài nói về cuộc đời đức hạnh của bà, và số lần niệm chuỗi thần chú "Om Mami Pademe Hum" (Án Ma Ni Bát Di Hồng) của bà trong những năm cuối đời. Ngài nói là ngài không buồn, vì tin rằng bà sẽ có một sự tái sinh hoàn hảo. Tôi biết chắc là bà đã trở lại với chúng ta lúc này, mang lại niềm vui cho mọi người xung quanh với tinh thần bất khuất của bà.



Diki Tsering 2aDiki Tsering 3Diki TseringDiki TseringDiki Tsering and taringDiki and Dolma


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2025(Xem: 6184)
Hơn một thập niên sống và học đạo ở Na Lan Đà (Ấn Độ), pháp sư Nghĩa Tịnh đã ghi chép nhiều nhận xét về luật lệ cho tăng đoàn Phật giáo vào TK 7. Đây cũng là một mục đích chính của ngài sau 25 ở nước ngoài và hơn một thập niên du học ở Na Lan Đa (Ấn Độ). Phần này chú trọng vào điều 33 với tựa đề là “Tôn kính quai thức” 尊敬乖式 (tạm dịch/NCT các tục lệ/tôn kính ngược ngạo). Tuy điều 33 chỉ có 161 chữ, nhưng gồm nhiều khái niệm Phật giáo và dữ kiện rất đáng chú ý. Các ghi chép trong đó cho thấy hai bức tranh toàn cảnh của người thường (phàm/tục) phải trải qua giai đoạn xuất gia, sống một đời khất sĩ theo gương hạnh đầu đà để cuối cùng tìm đến niết bàn (vô sinh). Tương phản với người phàm sống trong tham vọng và xa xỉ, giả dối để mưu sinh. Ngoài ra, ảnh hưởng của Phạn ngữ không nhỏ trong văn hoá Trung Hoa, phản ánh qua các cách dịch nghĩa và kí âm còn tồn tại đến ngày nay; một số đã trở thành vốn từ căn bản của các ngôn ngữ bản địa mà ít người biết là có gốc 'ngoại lai'. Một số Hán và Phạ
10/02/2025(Xem: 9138)
Khi tiếng pháo đón chào năm mới 2025 chấm dứt, khi người Hòa Lan trở về với cuộc sống bình thường mỗi ngày thì đó lại là lúc người Việt Nam nơi đây chuẩn bị đón chào năm mới. Chúng ta đón Tết Nguyên Ɖán trong không khí gia đình, chúng ta không hưởng được không khí Tết ngoài đường phố, trong các cửa hàng như ở quê nhà.
10/02/2025(Xem: 5348)
Khi nào bạn thấy tâm và cảnh vốn là không, bạn sẽ thấy bất kỳ nơi nào cũng là Niết Bản. Lời dạy đó là từ một bài thơ của Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) khi ngài dạy ý chỉ Thiền tông cho vua Trần Nhân Tông. Lời dạy đó cũng là đúc kết từ nhiều Kinh khác nhau do Đức Phật truyền dạy.
10/02/2025(Xem: 8635)
Trong tạng kinh Nikàya (Pali), cụ thể là Kinh Tương Ưng Bộ Samyutta Nikàya, Tương Ưng Nhân Duyên, những gì Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chứng ngộ, thấy biết như thật tương ưng với những gì chư Phật quá khứ đã chứng ngộ và thấy biết như vậy. Thế Tôn gọi đó là TÙY TRÍ (Tùy trí chư Phật quá khứ: thấy biết giống như chư Phật quá khứ đã thấy, đã chứng ngộ). Đấng Thiện Thệ cho rằng những ai Tùy Trí như vậy sẽ có Pháp Trí (tức là Pháp Trí như vậy do Tùy Trí Chư Như Lai mà có, nên tràn đầy ánh quang minh hay Pháp Quang).
06/02/2025(Xem: 10885)
XUÂN VÀ CON ĐƯỜNG CỦA BỒ TÁT ĐI Pháp thoại Hòa thượng Thích Thái Hòa giảng cho Phật tử ngày mùng 2 tết Giáp Thìn, tại Tịnh Nhân Thiền đường, Tự viện Phước Duyên - Huế Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật.
05/02/2025(Xem: 9639)
Trời xuân ấm vạn nẻo đường Đất xuân ấm giữa vô thường thế gian; Non xuân đứng giữa núi ngàn, Nước xuân chảy giữa muôn vàn điệu ru;
05/02/2025(Xem: 7550)
Trong cuộc sống chúng ta thường lẫn lộn giữa thực tế và ước mơ, thế nhưng ước mơ cũng có thể giúp chúng ta nhìn vào thực tế một cách thực tế hơn, hoặc ngược lại thì thực tế đôi khi cũng có thể khơi động và làm sống lại các ước mơ của mình trong quá khứ. Câu chuyện mà tôi sắp thuật lại dưới đây nêu lên các ước mơ của một người mẹ hiện lên với mình như một sự thực, và các ước mơ của một người con mãi mãi vẫn là ước mơ.
05/02/2025(Xem: 10230)
NẾN VU LAN THẮP SÁNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG Trong truyền thống Phật giáo, lễ Vu lan là ngọn nến hiếu hạnh thắp sáng giữa đời thường để cho ai có mắt thì được thấy, có trí thì được sáng tỏ, có tâm thì cảm và có tình, thì tình thêm sáng đẹp, rộng và sâu.
05/02/2025(Xem: 10052)
CÁC PHÂN KHOA PHẬT GIÁO Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu.
04/02/2025(Xem: 6258)
Có một bài thơ khó hiểu trong Thiền Tông. Bài thơ có tên là Ngũ Vị, có khi gọi là Động Sơn Ngũ Vị, và có khi gọi là Ngũ Vị Quân Thần. Bài thơ khó hiểu phần vì dùng nhiều chữ xưa cổ, nhiều hình ảnh thi vị, và vì chỉ cho một số chặng đường tu học trong Thiền Tông. Bài này sẽ tham khảo nhiều giải thích để làm sáng tỏ bài thơ này.