05. Voi Chúa Sanh Thiên

26/11/201319:24(Xem: 90195)
05. Voi Chúa Sanh Thiên
mot_cuoic_doi_tap_4


Voi Chúa Sanh Thiên


Hôm sau, tôn giả Mahā Moggallāna gặp đại đức Ānanda, nói rằng:

- Này hiền giả thân mến! Tại thị trấn Kuru, chếch về hướng đông nam khoảng vài do-tuần, có một ngôi rừng nguyên sinh có tên là Rakkhitavana, đức Thế Tôn đang độc cư ở đấy, an cư ở đấy, có lão voi chúa hiền thiện vừa làm thị giả, vừa làm hộ pháp, vừa hầu hạ, cung phụng, cúng dường cây trái cho ngài thật là chu đáo. Hiền giả cùng năm trăm vị tỳ-khưu hãy lên đường, nghinh đón ngài về đây cho tăng ni, cư sĩ các giới khỏi phải ngóng vọng và trông chờ!

- Hóa ra sư huynh đã biết rõ tường tận như thế?

- Vâng! Không chỉ mình tôi mà tất cả bậc lậu tận và có thắng trí đều biết!

Đại đức Ānanda cười vui chớ không buồn:

- Vậy thì đệ sẽ đi ngay!

- Đúng thế! Cùng với năm trăm vị tỳ-khưu!

- Thưa vâng!

Tôn giả Mahā Moggallāna còn dặn dò:

- Khi đến bìa rừng, đại chúng ở ngoài, hiền giả một mình vào trước. Phải để ý đến lão chúa voi, hắn sẽ ngáng đường làm khó dễ đấy. Tuy nhiên, chỉ cần đưa y bát lên rồi chỉ vào khu rừng, lão voi sẽ để cho hiền giả đi. Đức Thế Tôn ngự ở một cội cây sālā hùng vĩ nhất.

Thế rồi, đại đức Ānanda cùng với đại chúng lên đường, theo hướng về Bārāṇasī. Vì hội chúng đông còn phải phân bố rải rác khất thực qua các thị trấn hoặc thôn làng nên phải đi khá chậm, nửa tuần trăng họ mới tới nơi. Nhìn khu rừng già hoang quạnh, đại đức Ānanda chảy nước mắt.

Ghi nhớ lời của tôn giả Mahā Moggallāna, đại chúng chờ rải rác ngoài rừng cây, đại đức Ānanda đi vào rừng một mình. Vào một khoảng cây thưa, có một ông voi trắng to lớn đưa mắt gườm gườm nhìn đại đức. Biết ý, đại đức nâng bát và y lên cho voi thấy, rồi mỉm cười, đưa tay chỉ vào trong ra dấu hiệu. Tuy nhiên, voi chưa nhường đường ngay mà đưa mắt quan sát “người lạ” một hồi, và có lẽ nó trông thấy “giông giống” đức Phật nên quay lưng, đủng đỉnh bước đi như dẫn lối. Đại đức chậm rãi theo sau.

Lúc ấy đức Phật đang tọa thiền, khi xuống cận hành định, mở mắt ra đã thấy đại đức Ānanda đang quỳ phía trước, còn lão voi chúa đứng hầu một bên.

- Hãy gọi chúng tỳ-khưu vào đây, Ānanda! Đức Phật mỉm cười nói - ông và mọi người đi đường xa chắc đã mệt mỏi lắm rồi đấy!

- Ai ai cũng mong ngóng đức Tôn Sư cả! Đại đức Ānanda quỳ năm vóc sát đất, đảnh lễ xong rồi đáp - Nguyện vọng của mọi người là thỉnh đức Tôn Sư về Sāvatthi.

Đức Phật im lặng không nói gì.

Khi chư tăng vào đầy đặc cả khu rừng, voi chúa có vẻ bối rối, bất an; tức khắc, cái vòi của nó nắm chặt một khúc cây to, dựng đứng lên như ra dấu hiệu sẵn sàng bảo vệ đức Phật.

- Hãy bỏ gậy đi, này Pārileyyaka! Đức Phật rải tâm từ, đưa mắt nhìn voi rồi nói - Họ là đệ tử của Như Lai đấy. Họ cũng bảo vệ Như Lai cũng như ngươi bảo vệ Như Lai suốt mấy tháng qua, vậy đó!

Đại chúng ngạc nhiên khi thấy voi như hiểu tiếng người, nhẹ nhàng dựng khúc cây vào sau hốc đá rồi ngoan ngoãn nằm xuống, tế nhị cuộn giấu cái vòi vào bên trong.

Đại đức Ānanda có vẻ quan tâm:

- Thấy hình dong, sắc tướng của đức Thế Tôn vẫn phương phi, hồng hào, quang rạng, chúng đệ tử rất vui mừng! Nhưng không biết ở tại đây, nơi xa vắng hẻo lánh này, ai là những thí chủ dâng cúng vật thực hằng ngày cho đức Đạo Sư?

- Này Ānanda! Này các thầy tỳ-khưu! Một đức Chánh Đẳng Giác, nếu muốn, có thể đi trì bình khất thực ở bất cứ đâu trên toàn cõi Diêm-phù-đề này, kể cả Bắc Câu-Lu châu! Còn nữa, bữa độ thực của bất kỳ vị Chánh Đẳng Giác nào cũng có sự tham dự của chư thiên, do họ luôn luôn bỏ thêm thức ăn của cõi trời, những mỹ vị, những hương vị tinh tế, thù diệu và bổ dưỡng. Như vậy, sự nuôi mạng của Như Lai không phải là vấn đề phải để tâm. Điều quan trọng là bữa ăn ấy hữu ích cho ai, lợi lạc cho ai? Các thầy nên để ý đến cái câu hỏi ấy!

Để cho đại chúng hiểu rõ ý nghĩa, đức Phật mới giảng dạy tiếp:

- Thường mỗi buổi sáng, sau khi quán sát toàn cõi châu Diêm-phù-đề, thấy ai sẵn đủ căn duyên, Như Lai mới đi khất thực để hóa độ họ. Bằng thấy không có cơ duyên, thì Như Lai cứ ôm bát đi cho chúng sanh tự khởi tâm cúng dường, như vậy lợi lạc lớn, lợi ích lớn sẽ phát sanh cho họ. Còn những khi còn lại, thì sao? Thì mấy tháng nay, Như Lại có hai vị thí chủ, thí chủ khỉ và thí chủ voi! Thí chủ khỉ sau khi dâng Như Lai một tấm mật ong, thấy Như Lai thọ dụng, nó hoan hỷ quá, chí chóe nhảy nhót, bay từ cây này, sang cây khác; và do bất cẩn, nó tuột tay, rơi nhằm một vật cứng nên bể đầu, mạng chung, tức khắc hóa sanh làm một vị thiên nam ở cung trời Đao Lợi. Còn vị thí chủ voi này, ngày đêm như vậy đó; ngoài chuyện dâng cúng trái quả quý hiếm, ngon ngọt, nó còn biết dâng nước uống, nước rửa mặt, nước rửa tay, quét dọn sạch sẽ xung quanh gốc đại thụ này nữa. Và cũng vì lợi lạc cho nó nên Như Lai còn ở đây, rồi các thầy sẽ hiểu điều đó!

Ngưng một lát, đức Phật nhìn voi, nói:

- Này các thầy tỳ-khưu! Nó là một người bạn lành, một người bạn tốt! Dẫu mang thân súc sanh, nhưng đức tánh, phẩm chất của nó còn hiền thiện hơn rất nhiều so với một số những cái gọi là “con người” trên thế gian này đó!

Lời dạy của đức Phật và câu chuyện vừa kể của ngài về khỉ và về voi đã làm cho một số tỳ khưu xốn xang, hổ thẹn; một số vị nhờ vậy, cảm thấy mình có được con mắt sáng để thấy rõ có cái gì đó bình đẳng giữa tất cả chúng sanh. Có vị củng cố thêm đức tin về nhân quả, kiếp này, kiếp kia và luân hồi tử sanh!

- Như Lai sẽ về Jetavana với các vị - Đức Phật lại nhấn mạnh - Nhưng mà này, sau này, trong các vị, nếu ai trên lộ trình du hóa, gặp được bạn lành thì hãy làm quen với vị ấy, thân cận với vị ấy, học những đức tính tốt của vị ấy, an lạc sống với vị ấy để vượt qua mọi hiểm nguy luôn giăng bẫy trên khắp mọi nẻo đường đời!

Nói thế xong, đức Phật tóm tắt ý ấy bằng bài kệ:

- Ra đi trên bước đường đời

Gặp được bạn tốt, đáng người làm quen

Học chân thật, học dịu hiền

Kết bằng vui sống, vượt miền hiểm nguy(1).

Chăm chú nhìn hội chúng một lát, đức Phật cất giọng tiếp tục:

- Tuy nhiên, cũng trên con đường du hóa ấy, nếu không gặp được người hiền, người tốt; không gặp được bạn lành thích hợp, không gặp được người có tác phong đứng đắn; không gặp được người có trí tuệ, có chánh niệm, có tinh tấn để cận kề, nương tựa sớm hôm thì hãy nên như một vị vua, sẵn sàng rời bỏ một vương quốc vừa mới chinh phục, viễn ly tất cả để sống một mình như con voi chúa ở rừng sâu như thế này!

Rồi đức Phật đọc bài kệ thứ hai:

- Ra đi trên bước đường đời

Nếu không gặp bạn là người thiện nhân

Là người tuệ hạnh trong ngần

Là người chánh niệm, tinh cần sớm hôm

Thà rằng vững bước cô đơn

Như lão voi chúa thâm sơn một mình(1)!

Như để cho đại chúng lãnh hội ý nghĩa thấm thía hơn, đức Phật còn giảng tiếp:

- Một trường hợp khác nữa, là không nên kết bạn với kẻ ngu si, người lắm lời, lắm chuyện, cãi cọ, luận tranh ồn ào, huyên náo, phóng dật, giải đãi... Hãy rời xa tất thảy mọi phiền não, ác uế, lo âu, sầu muộn, và hãy sống trong tĩnh lặng, cô đơn như voi chúa tĩnh cư thanh nhàn ở non sâu!

Ngài đọc thêm bài kệ thứ ba:

- Tốt hơn, hãy sống một mình

Người ngu kết bạn dặm trình chẳng nên

Ác xa, rời bỏ não phiền

Chúa voi cô độc vui miền rừng xanh(1).

Đức Phật vừa đọc xong câu kệ thứ ba, năm trăm tỳ-khưu đều đắc từ sơ quả đến nhị quả. Tất thảy đại chúng đồng sụp xuống quỳ lạy; rồi sau đó, tiếng sādhu lành thay vang dội cả khu rừng, lan xa đến các cõi trời.

Để cho không khí yên lắng lại, đức Phật mỉm cười:

- Vậy là tốt rồi! Là lợi ích lớn, là lợi lạc lớn rồi! Thôi, này Ānanda cùng các thầy! Giờ cũng là giờ phải lẽ, chúng ta từ giã khu rừng Rakkhitavana, từ giã cội cây sālā, từ giã chú voi Pārikaleyyaka hiền thiện, lên đường thôi!

Nói xong, đức Phật trú tâm, nhiếp tâm, chỉ một thoáng khắc là ngài vào sơ thiền, lên bát thiền, lần lượt trở xuống tam thiền, xuống nhị thiền, sơ thiền, vào cận định của sơ thiền rồi rải tâm từ cho chư thiên, thọ thần các loại phi nhân, muông thú, đại chúng, kể cả voi chúa, rồi ngài đứng lên.

Tỳ-khưu thị giả lúc ấy là Nāgita, thay thế tỳ-khưu Sunakkhatta đã bỏ đi, theo lệ thường, bước tới định mang y bát của đức Phật thì liền bị cái vòi của con voi chúa thò ra ngăn lại, ông sợ hãi thụt lùi mấy bước.

Biết ý, đức Phật nói:

- Các ông hãy đợi một lát. Voi chúa nó muốn cúng dường đấy!

Và quả thế thật, voi đi vào góc rừng, lát sau nó đội trên lưng một đống chuối rừng đang chín hườm, về đặt bên chân đại chúng tỳ-khưu. Chẳng ai hiểu chuyện ấy ra sao. Đức Phật mỉm cười:

- Ý nó muốn nói là, tôi cúng dường vật thực cho các vị đó, các vị hãy ăn đi rồi còn lên đường. Đừng quấy rầy nơi này nữa.

Lúc chư tăng mỗi người nhận một vài trái chuối lấy thảo thì đức Phật đến bên voi, xoa đầu nó, nói với nó vài lời rồi cất bước. Tuy nhiên, con voi lại đưa vòi xua xua như đuổi chư tăng đi và đứng án ngữ ngăn chặn đức Phật lại.

Mọi người xôn xao:

- Nó làm gì vậy?

- Nó muốn mời các vị đi! Đức Phật nói - và muốn giữ Như Lai ở lại.

Rồi đức Phật nói chuyện với nó:

- Này Pārikaleyyaka! Hôm nay Như Lai phải đi thôi vì rất nhiều người đang mong đợi. Đây được xem như là cái duyên hạnh ngộ, may mắn cho ngươi lắm đó! Và đây cũng là khoảnh khắc cuối cùng Như Lai từ biệt ngươi.

Hãy cố gắng giữ gìn những thiện pháp có được và những trạng thái tâm hỷ, tâm an trong tháng ngày ngươi đã cung phụng, hầu hạ, hộ độ cho Như Lai. Rồi ngươi sẽ sớm thoát khỏi kiếp thú này để tái sanh vào các cảnh giới cao hơn!

Voi chúa nghe được những lời ấy, nó đút vòi vào miệng, thụt lùi lại phía sau rồi rống lên những tiếng bi ai, sầu thảm. Tuy nhiên, nó cũng lủi thủi tiễn đức Phật ra tới tận bìa rừng.

Đức Phật dừng lại:

- Này Pārikaleyyaka! Hãy dừng lại ở đây. Ngoài kia không phải là khu vực an toàn cho ngươi nữa đâu.

Voi chúa nghe lời. Rồi nó giương mắt nhìn chiếc bóng của đức Thế Tôn, nhưng bóng ngài đã chìm khuất giữa rừng tăng chúng. Nó lại rống lên từng tràng não nuột, bi thiết rồi vỡ tim mà chết.

Rồi cũng tương tợ như chúa khỉ, nó tức khắc hóa sanh vào cung trời Đao Lợi làm một vị thiên nam sáng ngời sắc tướng, có tên là Pārikaleyyaka thiên tử!

Đức Phật biết tức khắc, ngài nói với đại đức Ānanda và một số tỳ-khưu xung quanh:

- Cũng như khỉ chúa, con voi chúa kia đã sanh thiên rồi, đấy là do nhờ đức tin, cung phụng, hầu hạ Như Lai và phước báu trái quả mà nó đã thành tâm dâng cúng hằng ngày cho Như Lai đó!



(1)Pháp cú 328: Sace labhetha nipakaṃ sahāyaṃ saddhiṃ caraṃ sādhuvihāridhīraṃ. Abhibhuyya sabbāni parissayāni careyya ten’attamano satimā (Có bài dịch khác: Xa xôi vạn dặm độc hành. Kết bạn thiện sĩ, phúclành lắm thay! Học tâm, học trí đủ đầy. An vui, chánh niệm vượt ngay hiểm nghèo!).

(1)Pháp cú 329: No ce labhetha nipakaṃ sahāyaṃ saddhiṃ caraṃ sādhuvihāridhīraṃ. Rājā’ va raṭṭhaṃ vijitaṃ pahāya eko care mātaṅgaraññ’eva nāgo (Có câu dịch khác: Xa xôi ngàn dặm lữ hành. Nếu không gặp được bạn lành cùng đi. Sẽ không tăng trưởng tuệ tri. Không thêm giới hạnh, tu trì với ai? Thà rằng cô độc hôm mai. Rừng sâu chúa tể, mình voi hưởng nhàn!).

(1)Pháp cú 330: Ekassa caritaṃ seyyo natthi bāle sahāyatā. Eko care na ca pāpāni kariyā appossukko mātaṅgaraññ’eva nāgo.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/07/2025(Xem: 7065)
SỐNG TỐT ĐẸP HƠN Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Sưu tập: Renuka Singh Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
10/07/2025(Xem: 9270)
ĐƯỜNG ĐẾN AN BÌNH THẬT SỰ Nguyên tác: Many Ways to Nirvana Nhà xuất bản: Penguin Compass - 2005 Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Sưu tập và hiệu đính: Renuka Singh Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 23/02/2011
10/07/2025(Xem: 7006)
SỐNG TRỌN VẸN NHƯ THẾ NÀO Nguyên bản: How to practice the way to a meaningful life Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
10/07/2025(Xem: 8545)
BỪNG SÁNG CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ Nguyên bản: Illuminating the Path to Enlightenment - Tác giả: His Holiness the Dalai Lama Chuyển ngữ: Tuệ Uyển Dịch kệ: Hồng Nhu ***
09/07/2025(Xem: 7224)
Năm năm trước đây (2009) Tuệ Uyển đã dịch quyển Bừng Sáng Con Đường Giác Ngộ (Illuminating The Path To Enlightenment) một quyển sách ghi lại sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma căn cứ trên Tiểu Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim (Bồ đề thứ đệ tiểu luận) của Tổ sư Tông Khách Ba Và Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ (Bồ đề đạo đăng luận)của Tổ sư Atisa. Năm nay (2014) Tuệ Uyển lại có cơ hội để chuyển ngữ Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim (Bồ Đề Thứ Đệ Đại Luận) của Tổ sư Tông Khách Ba cũng do sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
09/07/2025(Xem: 8393)
LỜI GIỚI THIỆU “Ba mươi bảy phẩm trợ đạo giác ngộ” là tuyển tập các bài giảng của đức Dalai Lama do Nyima Tsering dịch tiếng Anh và Tuệ Uyển - Thích Từ Đức dịch tiếng Việt, được xem là cẩm nang tu tập hướng đến sự giác ngộ theo tinh thần Phật giáo Tây Tạng. Tác phẩm gồm ba phần như sau: Phần đầu gồm 37 phẩm trợ đạo, thường được biết đến là Con đường tiệm tiến (Lam Rim) vốn là cẩm nang luyện tâm, chuyển hóa tâm trong tâm lý học Phật giáo Tây Tạng. Khác với 37 phẩm trợ đạo được đức Phật giảng dạy trong kinh điển Pali, 37 phẩm trợ đạo giác ngộ này thực chất là 37 điều tâm niệm, theo đó đức Dalai Lama phân tích ứng dụng cho người tu học Phật. Lời chú giải của đức Dalai Lama rất gần gũi với đời sống thực tiễn, nhờ đó, người học có thể ứng dụng Phật pháp hiệu quả, nhằm vượt qua các bế tắc và khổ đau. Mỗi ngày trải nghiệm một điều trợ đạo giác ngộ, người đọc sẽ thấy tâm mình nhẹ nhõm, thư thái, sáng suốt, điềm tĩnh và tìm ra giải pháp vượt qua các bất hạnh. Ba phương diện của con
09/07/2025(Xem: 5260)
Tôi chú ý đến cô ta trong đám đông ngay lập tức. Cô vươn mình ra phía trước, chỉ phía sau làn dây nhung lớn ngăn cách trong phòng khánh tiết nhỏ của lâu đài Prague ( thủ đô Cộng Hòa Czech). Cô là một phụ nữ hấp dẫn, có lẻ trong độ tuổi ba mươi. Khuôn mặt sôi nổi với sự mong đợi.
09/07/2025(Xem: 7084)
Ngài tự nhận trọn đời ngài chỉ là một nhà sư đơn giản, nhưng sóng gió tiền định đã đưa ngài vào ngôi vị Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 để gánh vác chức lãnh đạo cả đạo và đời cho dân tộc Tây Tạng từ khi ngài còn thơ ấu.
09/07/2025(Xem: 4864)
Lăn qua lộn lại, kéo mền trùm đầu vẫn không sao ngủ được. An ngồi dậy, đi ra đi vào và uống nước mấy lần, tâm trí bất an, song lòng dập dờn như biển, lại thấy nóng như thiêu như đốt. Dẫu biết lo lắng cũng không giải quyết được chuyện gì nhưng không thể không lo lắng. Má An ở quê bị bệnh nghiêm trọng, bác sỹ chuẩn đoán bị ung thư kỳ cuối.
09/07/2025(Xem: 4212)
Chẳng khác gì ngày nay, ngay cả vào thời đại của Đức Phật trong châu thổ sông Hằng, cách nay hơn 25 thế kỷ, cũng đã từng có những kẻ điên rồ và những người sáng suốt. Sự tương phản giữa u mê và sáng suốt, giữa hung bạo và yêu thương, giữa vơ vét và chia sẻ, không những là một sự tương phản giữa con người với nhau trong cộng đồng xã hội, mà còn là một trong các nguyên nhân chủ yếu mang lại thật nhiều đổ vỡ trong sự sinh hoạt của con người nói chung.