Về Chùa công quả

19/09/201317:42(Xem: 10802)
Về Chùa công quả

Tu_Vien_Quang_Duc (156)


VỀ CHÙA LÀM CÔNG QUẢ

Thanh Phi

Năm mươi lăm tuổi đời
Trôi qua thật là nhanh
Bốn mươi lăm tuổi lẻ
Tôi mãi bận phân tranh
Với cuộc đời nghiêng ngữa
Mười năm rồi cũng nhanh
Tôi về nương tựa Phật
Mặc cho tháng ngày xanh
Vẫn âm thầm lặng lẽ
Cùng bao nỗi đua tranh
Tôi yên bình niệm Phật
Tìm nơi chốn an lành.

Mới đó mà đã mười năm! Tôi nhớ lại khoảng tháng 8 năm 2000, trong một buổi Trai Tăng tại nhà Mai, em họ tôi, Thầy Tâm Phương đã nói với tôi: “ Cuộc sống của con hiện ra sao ? nếu có thời gian, con phát tâm về Chùa phụ với Ban Trai Soạn lo cho Chư Tôn Đức trong ngày lễ khai móng xây cất chánh điện vào ngày 10 tháng 12 tới”. Tôi đã nhận lời mời của Thầy.

Tôi bắt đầu về Tu Viện Quảng Đức làm công quả từ ngày 9 tháng 12 năm 2000. Những ngày đầu tiên ấy tôi chưa có ý niệm gì về hai chữ “Công Quả”, tôi chỉ làm những việc quý Thầy nhờ làm thế thôi. Sau hai ngày lo việc nấu nướng, khi buổi lễ kết thúc, Sư Cô Hạnh Nguyên đã nói với tôi:“ Chủ nhật hằng tuần cô phát tâm về chùa nấu ăn cho Quý Thầy giùm tôi”. Lời đề nghị này cũng thích hợp vào thời điểm con cái tôi đã trưởng thành không cần phải lo lắng nhiều nên tôi đã nhận lời. Thế là từ đó hàng tuần vào mỗi ngày chủ nhật tôi đều về chùa lo việc nấu nướng cúng dường cho quý Thầy Cô, và nhờ vậy tôi mới thấy biết được những sinh hoạt trong Chùa.

Tôi đã từng xót xa khi những buổi sáng sớm mùa đông lạnh lẽo, cảnh vật chung quanh vẫn còn mờ ảo trong bóng đêm và mọi người có lẽ vẫn còn say ngủ trong chăn êm nệm ấm, Thầy Trụ Trì đã ngồi dưới mái nhà che tạm bên khu nhà Đông để Kệ chuông. Giọng Thầy trầm buồn quyện vào tiếng ngân vang của Đại Hồng Chung nghe sao não nuột quá! Thầy ngồi đó chắc là lạnh lắm? Từ đó tôi biết được thời khóa công phu ở chùa, mỗi sáng Quý Thầy Cô đều thức dậy vào khoảng 4 hay 5 giờ, chia nhau người thì lên chánh điện tụng Lăng Nghiêm, người thì Kệ chuông. Trước kia tôi vẫn nghĩ là quý Thầy ngủ đến 7, 8 giờ mới thức.

Tôi về Chùa trong giai đoạn xây cất nên thấy được Quý Thầy rất là vất vả, bận rộn. Tôi nhớ có một buổi sáng tôi nấu mì cho Quý Thầy ăn, khi vừa nấu xong Thầy chưa kịp ăn thì người thợ (người Úc) kêu Thầy trộn hồ cho họ làm, Thầy làm xong trở vô, tôi nấu tô mì khác vừa định bưng ra thì lại có người kêu Thầy làm việc gì đó, và khi tô mì làm lần thứ ba được đặt lên bàn thì Thầy than mệt quá, ăn chẳng được bao nhiêu; Có hôm tôi nhìn thấy Thầy Nguyện Tạng ướt đẫm dưới cơn mưa tầm tã để khiêng cất những chiếc bàn đã đặt ở ngoài trời trước đó; Có những buổi trưa dưới ánh nắng gay gắt của mùa hè, quý Thầy và các anh vẫn phải phơi mình để làm những công việc cần thiết.

Tôi về Chùa được vài tháng, tận mắt thấy sự vất vả của Quý Thầy, thấy sự tận tụy chịu khó của các anh, các chị về phụ giúp chùa khiến cho tôi cảm động, tôi hiểu được giá trị của hai chữ “công quả”. Và tôi đã nghĩ mình cũng phải nên làm một cái gì đó hữu ích hơn là cứ ngồi nhà tụng kinh niệm Phật.

Nhớ lại mười lăm năm trước khi chồng tôi qua đời được vài ngày, một đêm tôi nằm chiêm bao thấy bị ba bóng đen rượt đuổi, tôi rất sợ hãi chạy đến đập cửa một căn nhà và người ra mở cửa cứu tôi là một Sư Bà. Giật mình tỉnh giấc tôi chợt nghĩ cuộc đời này có quá nhiều đau khổ, muốn thoát được chỉ có con đường tu hành. Với ý niệm đó tôi đã chọn cho mình con đường để đi trong những tháng năm còn lại của cuộc đời. Tuy chọn đường tu hành nhưng tôi không hề có ý nghĩ xuất gia vì trước đó tôi rất ít khi đi chùa, không biết gì nhiều về sinh hoạt ở Chùa. Tôi chỉ biết giảm bớt những liên hệ bên ngoài, ngày hai thời tụng kinh, niệm Phật, lo làm việc để nuôi hai con thế thôi. Sau này đọc kinh sách, tôi hiểu được ba bóng đen trong giấc chiêm bao của tôi chính là Tam độc Tham - Sân - Si. Tôi rất vui vì nghĩ rằng Chư Phật đã gia hộ, dẫn dắt tôi, nên tôi càng quyết tâm hơn với điều mình đã chọn. Tôi đã sống và tu tập âm thầm như vậy cho đến ngày gặp Thầy Trụ Trì kêu về chùa công quả.

Nhắc lại sau hai ngày đầu tiên tôi về Chùa phụ giúp nấu nướng cho lễ khai móng, lúc trở về nhà tắm gội, bất giác tôi phát hiện tóc của tôi bị rụng một cách không bình thường và tiếp theo đó mỗi lần gội đầu là tóc lại rụng từng mãng, có lần nhìn tóc rụng phủ đen dưới chân, tôi đã bật khóc. Chỉ trong vòng ba tháng, tóc tôi rụng gần hết như người hói đầu khiến tôi phải đội tóc giả khi ra ngoài. Bạn bè nói với tôi rằng: “chắc là số của bà phải đi tu rồi đó”. Câu nói đùa nhưng lại khơi dậy trong lòng tôi ý muốn xuất gia. Tôi chợt nhớ lại mấy năm về trước có lần theo mấy người bạn đi hành hương đến Tu Viện Quảng Đức (lúc chưa được xây cất), khi bước vào chánh điện lễ phật tôi đã khóc mà không biết lý do tại sao. Ba năm sau đó tôi theo phái đoàn của Thầy Huyền Diệu đến tu Viện Quảng Đức và một lần nữa nước mắt tôi lại chảy khi bước vào chánh điện lễ Phật. Bây giờ kết hợp với việc bị rụng tóc khi về Chùa làm công quả khiến tôi suy nghĩ không biết mình có duyên gì với Chùa này hay không ? Và có một ngày đứng trước tôn tượng Thế Tôn tôi đã phát nguyện “ Nếu thật sự con có duyên với Tu Viện Quảng Đức này xin Chư Phật gia hộ cho con sớm lành bệnh. Con nguyện từ nay cho đến ngày con đủ duyên xuất gia con sẽ hếtlòng về lo phụ giúp Chùa này” và không biết có phải lời cầu xin của tôi được linh ứng hay không mà tóc của tôi bắt đầu mọc lại như xưa (Bác sĩ đã từng nói tóc tôi khó có thể mọc lại như trước). Từ đó tôi xem Tu Viện Quảng Đức như nhà của mình, làm tất cả những gì mình có thể làm được.

Mười năm làm công quả ở đây đã có biết bao nhiêu chuyện vui buồn, bởi tập thể nào mà không có chuyện phiền não, thị phi? Người xưa từng nói: “Đường Đạo cũng có nhiều chông gai đá nhọn, nếu không thể dẹp bỏ được thì phải tự sắm cho mình một đôi giày và bước đi những bước thật cẩn thận để không bị đau bởi chông gai đá nhọn” lời nói này có lý nhưng không thể là tuyệt đối. Bởi đôi khi có những việc xảy ra cho mình là do nghiệp duyên của mình tạo. Tôi chỉ nhờ vào lời phát nguyện nên dù thế nào tôi vẫn phải luôn giữ vững cái tâm ban đầu của mình. Nhờ vậy mà đến ngày hôm nay tôi mới có thể tận mắt chứng kiến sự thành tựu của công trình xây dựng Tu Viện Quảng Đức.

Có được sự thành tựu này phải nói là nhờ công đức, phước báu và công khó của hai Thầy Chánh và Phó Trụ Trì. Có lần nói chuyện với Sư Cô Nguyên Khai, tôi đã nghe Cô tâm sự: “Cúng dường cho vị nào thì tiếc chứ cúng cho Thầy Tâm Phương thì không, bởi Thầy có một mà làm tới hai ba”. Quả thật đúngnhư vậy, mười năm qua theo cái thấy biết của tôi, đôi lúc Chùa không có đủ tiền trả tiền bill, Thầy phải hỏi mượn nơi này, nơi khác, nhưng công trình xây dựng vẫn được tiếp tục. Quý Thầy đã phải cưu mang bao nhiêu điều lo lắng, chịu bao nhiêu lời trách móc cũng chỉ là để có được sự thành tựu ngày hôm nay, điều mà tôi cũng không thể ngờ được. Thân mang bệnh, nhưng Thầy Trụ Trì đã không thể vì mình mà bỏ dở tâm nguyện, tạo dựng cơ sở cho thế hệ mai sau có nơi tu tập để Phật Pháp được trường tồn. Thầy Phó Trụ Trì Nguyên Tạng thường nói trong các buổi giảng chủ nhật rằng: “ chúng ta là thế hệ đầu tiên trong việc đặt nền tảng cho Phật giáo trên xứ Úc này, nên chúng ta phải hy sinh, phải chịu thiệt thòi để có cơ sở vững chắc cho thế hệ con cháu của chúng ta sau này có nơi chốn tu tập, hành trì giáo Pháp Phật”.

Tâm nguyện của Quý Thầy ngẫm lại cũng giống như chúng ta. Ngoài đời khi chúng ta mới đến Úc, chúng ta cũng đã phải bương chải chịu hy sinh đủ điều cốt để tạo dựng nhà cửa, tiện nghi cho con cháu chúng ta bây giờ được thảnh thơi chuyên tâm học hành và tự tạo dựng thêm những cái gì tốt đẹp hơn cho chúng. Mười năm, hai mươi năm nữa chúng ta cũng có thể ngồi yên niệm Phật, mỉm cười nhìn con cháu chúng ta thong dong đến Chùa tu tập, học hỏi Phật pháp chứ không phải vất vả như chúng ta. Lúc ấy ta mới thấy được sự hy sinh cao cả của quý Thầy, và của chính chúng ta hôm nay là chánh đáng.

Tôi rất vui bởi duyên lành nào đó đã xui khiến tôi chọn nơi này để tập bước từng bước một trên con đường tu tập của mình. Mười năm qua tuy bận rộn nhưng tôi đã học được rất nhiều điều. Tất cả những chuyện vui buồn đều là những bài học quý giá tôi luyện cho bản thân tôi.

Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô đã tạo cho con những cơ hội được làm việc và chỉ dạy để con học hỏi thêm. Xin cảm ơn các bạn đồng đạo và các con tôi đã thông cảm và hỗ trợ để tôi hoàn thành tâm nguyện hộ trì Tam Bảo. Con cũng trân quý những chướng duyên trong đời sống này, bởi qua đó con mới có dịp suy gẫm về lý nhân quả, để từng bước thực tập hạnh nhẫn nhục, để tâm mình được bình lặng hơn. Hy vọng một ngày nào đó không xa, đá tuy không thể mềm nhưng chân con đủ cứng để không bị đau đớn bởi sự va chạm, để vững bước trên đường tìm đến bến bờ giải thoát, xin mười phương Chư Phật từ bi gia hộ cho con.

Hôm nào nghe Thầy giảng
Lời Phật dạy năm xưa
Muốn thoát lìa sanh tử
Phải dứt nghiệp duyên thừa
Nên lòng con hoan hỷ
Chấp nhận mọi lỗi xưa
Được đáp trả kiếp này
Rồi từ nay xin chừa
Để đời sau nhẹ nhỏm
kết duyên cùng Đại Thừa
Tu hành luôn tinh tấn
Tìm lần về nhà xưa.

Melbourne, Xuân Canh Dần 2010

Đệ tử Thanh Phi

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2021(Xem: 11198)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12193)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12678)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11638)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11774)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12461)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 11948)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11532)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 10368)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/2020(Xem: 13240)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.