Cô thân vạn lý du

30/08/201307:40(Xem: 15711)
Cô thân vạn lý du
CÔ THÂN VẠN LÝ DU ...

Tâm Dũng

cothanvanly001Tâm Tình Dẩn nhập

Cuộc đời ngày càng phức tạp, học Phật cũng như thế.

Người học Phật ngày nay, trong thời buổi kinh tế thị trường, trăm hoa đua nở, tài liệu, kinh điển Phật Pháp, phương tiện thông tin đầy đủ và hữu hiệu, nên việc tìm hiểu, thực hành giáo Pháp, nếu muốn, thì sẽ quá dể dàng.Nhưng mà, cuộc đời trớ trêu thay, đất màu mở thì nhiều cỏ, lắm hoa thì nhiều sâu, thế nên, cũng chính vì sự phong phú đó, mà pháp Phật ngày nay, người học không khéo, không cẩn thận sẽ dể dàng lạc hướng trong rừng ngôn ngữ, đa dạng và phức tạp, trừu tượng và mơ hồ, nhằm diển tả thực tại mà lại xa rời thực tại và càng ngày càng ô nhiễm.

Bài viết này chỉ là những dòng“tâm sự”, tâm sự nhưng không than van, mà“nhẹ nhàng” như tiếng chuông chiều mà thỉnh thoảng ta nghe được văng vẵng đâu đó trên bước đường học Đạo,để nhắc nhở cho chính mình và chia sẽ với những người bạn chưa quen, nhưng có cùng chung một “tâm tình”,và nhất là, để thấy rằng, mình, chúng mình, sẽ không quá “cô đơn” như mình tưởng.

cothanvanly002Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du ...”

Hai câu đó mở đầu cho cuộc đời khất sỉ, từ đó, cuộc sống bình thường, thay đổi, mở ra một ngả rẻ có chọn lựa và quyết định. Ta thử nhớ lại cảnh tượng người trai trẻ Tất Đạt Đa, một đêm, đã nhẹ nhàng, vén màn, nhìn vợ, hôn con, lần cuối, rồi lặng lẻ ra đi, một mình, trơ trọi,hành trang vỏn vẹn chỉ có“khối nghi tình” thôi thúc mạnh mẽ, để từ đó băng mình trên con đường ... “cô thân vạn lý du” để tìm cầu giải đáp.

Cuộc ra đi dấn thân nào cũng nhiều đắn đo trăn trở, và “hào hùng” nước mắt, ngày xưa cũng như ngày nay, cùng là sự ra đi, nhưng mức độ giá trị sẽ tùy thuộc ở sự chọn lựa, tự nguyện hay do hoàn cảnh bức bách, vì chính điều đó sẽ là nhân tố quyết định cho thành quả sau này.

Người tu học Phật mình nên suy nghĩ nhiều về nguyên nhân “ra đi” cũa người trai trẻ đó, hãy suy nghĩ thật nhiều và hãy “hành thâm” về điều đó, nó sẽ giúp cho mình rất nhiều trên con đường ... “vạn lý du” cũa mình. Hãy chính mình suy tư về điều đó, chính mình, không dựa vào bất cứ ai khác, không căn cứ trên những mẩu chuyện thần thoại truyền thuyết nào cả, vì nó, phần lớn, đã thần thánh hóa và tô điểm màu mè làm nhòe đi hình ảnh“ra đi” bi tráng đó, và như thế sẽ làm cho mình mù mờ không hiểu được đâu là sự thật,đâu là nguyên do chính yếu, mạnh mẽ đến độ có thể thúc đẩy một hoàng tử buông bỏ tất cả để dấn thân vào con đường tầm đạo gian khổ.

cothanvanly003Lên non tìm hạt Bồ Đề

Ngày nay, cũng có rất nhiều người, có già có trẻ, nam hay nữ, một mình hay hai mình, cùng “rủ nhau”đi theo bước chân tầm đạo cũa người xưa, sự “ra đi” tuy không “âm thầm” và “bi tráng” như thế, nhưng, dù sao cũng dáng dấp đáng “yêu” và đáng ... nghiêng mình kính phục. Những người ngày nay, như Thiện Bửu, Ngọc hiền, Chơn Minh, Tâm Khiết; những John Doe, Jane Roe; những Jean Pierre, những Joe, Jannete,... họ ở cùng khắp, đã lần lượt ... bỏ trường bỏ sở bỏ người yêu mà “ra đi”, họ tìm đến những nơi xa xôi, mà địa danh nay trở thành quen thuộc: Dharamshala, Wat Pah Nanachat, Tassajara, Ukiah, Village des pruniers, North Folk, Bonsal, Escondido; Dalat, Long Thành, Suối Tiên, Yên Tử, Tây Thiên...

Các “thiện tài đồng tử” ngày này, dò dẩm, tìm tòi để được đến tận nơi, gặp gở và học hỏi với những vị Thầy, vị Sư, với những Roshi, Rinpoche, Swami, những Ajahn, Bhante, Sayadaw ... Họ không phải là những người hành hương bình thường theo chân một vài vị Thầy đi đây đi đó, thăm viếng những di tích hoang tàn còn sót lại, những người này, đi đến và ở lại, và nếu may mắn(...cũng có thể là không may mắn),họ sẽ được thay tên đổi họ,sẽ có những danh xưng rất “ngoại”, mà khi tiếp xúc,người ta sẽ không biết ... ai là ai,họ là người nước nào, nam hay nữ, chẳng hạn như có người với cái pháp hiệu rất là Ấn Độ mà khi biết ra thì lại là chàng Gary cao bồi Texas! hay khi nghe cái tên cũa một người rất là Việt và Nam, mà thực ra lại là dân “phớt tỉnh ăng lê” và rất là nữ! đại khái là như thế. Về hình tướng thì chiếc áo màu lam cư sỉ ngày nào nay sẽ đổi thành các áo choàng màu nâu, màu vàng, màu đen Nhật Bản, hay màu huyết dụ Tây Tạng...tùy theo trường phái tu tập, mà sau những tháng ngày “thử thách”, họ đã tìm được nơi an ổn, tạm thời hay dài hạn,với niềm hy vọng nơi đó sẽ có thể đáp ứng được những thao thức tìm cầu của mình. Nhưng phần lớn, thì không được “may mắn” như vậy,và sau những đêm dài “trăn trở”, họ lại phải “từ giả và ra đi”, nhiều lần và nhiều lần như thế nữa, ... nhưng chắc chắn là không hơn con số 55 lần cũa Thiện Tài Đồng Tử ngày xưa!

Sự hăm hở ban đầu, nguyên nhân thúc đẩy “ra đi” đó, dù cao quý hay bình thường thì cũng là điều đáng ca ngợi và khuyến khích. Nhưng không phải ai cũng có thể thẳng tiến “phăng phăng” trên đường đạo,hoàn cảnh, nơi chốn, bạn bè “đồng tu”, những khó khăn về “kỷ thuật”, phương pháp tu tập, cách thức hành đạo, và ... mục tiêu “Phật sự”... sẽ là những nhân tố đưa đến cho sự “từ giả và ra đi” đó. Nhưng điều này cũng nên “an ủi”(!)vì đó làmột “diển biến bình thường” mà chính Đức Phật cũng đã trải qua. Thời nào cũng thế và lúc nào cũng vậy.

Thử nhìn lại cái “vòng luân hồi” cũa ... ra đi, ở lại, từ giả rồi lại ra đi, thì người ta thấy rằng, thực ra, rất khó mà biết được ai là người “may mắn” và ai là người “kém may mắn”. Câu chuyện khúc gổ và dòng sông trong kinh Phật cho biết: khúc gổ mà không bị người vớt, không tấp bờ bên này bên kia, không mục nát ... thì nó sẽ “trôi thẳng băng” ra đại dương. Nhưng “tình thế” sẽ không đơn giản như vậy, trong thực tế, người ta cũng có thể hiểu được rằng, sự “ở lại” có thể là “tấp bờ”, dù là bờ bên này (chánh) hay bờ bên kia (tà), khi đó, khúc gổ đó có khi sẽ trở thành hữu ích, nhưng cũng có thể nó sẽ mục nát vì sâu bọ, tiền tài, danh lợi, sự nghiệp, chức vị ...Nhưng mà, than ôi, người từ giã “vứt áo ra đi” thì cơ hội cũng không hay ho gì, họ rất dể dàng bị “vớt gọn”! Thấy thế,người “đồng tu”mình, cách tốt nhất sẽ là“nín thinh”, lặng mình trong“im lặng sấm sét”! Vì rằng những cái lắc đầu chán nản hay chê bai, kinh rẻ đều là quá đáng.

cothanvanly004Mở ra tam tạng kinh

Ta ngồi đọc một mình

Trăng sao soi từng chử

Giữa đất trời lặng thinh.” (1)

Từ ngữ“một mình” có nhiều nghĩa, về mặt hình tướng thì là một thân một mình, cô thân độc mã, trơ trọi, là lang thang, “homeless”, thân “vô sở trụ”...; nhưng thực ra “tình thế” cũng không đến đổi “cô đơn” và “tệ” như vậy, dù sao, một mình nhưng chung quanh cũng còn có ...trăng sao và trời đất, và nhất là tự do! Nhưng, “một mình” ở đây, quan trọng hơn, nó có ý nghĩa nặng về mặt tâm lý, đó là sự buông bỏ, một trạng thái không còn bám víu vào một thứ gì khác.

Trong kinh có nói: buông! buông! buông cho đến không còn gì để buông, buông cho đến không còn cả ... “người buông” và “cái để buông”, thì khi đó là“xả” là “không”, là “vô nhất vật”, là ...“không là gì ráo” !“ Người biết sống một mình” là người “không tìm về quá khứ, không tưởng tới tương lai, quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới ...” (2), là người trong tâm sẽ không còn vương víu những bóng dáng thấm thoát của một thời quá khứ “hào hùng” ngày nào, và giờ đây, trong lòng cũng không còn “ôm ấp” những “mộng tưởng Niết Bàn”, những “lý tưởng cao đẹp” nào để theo đuổi, mong cầu đạt đến trong tương lai.

Trong Majjhima Nikaya, khi có người thỉnh cầu Đức Phật tóm tắt toàn bộ giáo pháp của Ngài ngắn gọn trong một câu, thì Ngài nói:"Sabbe dhamma nalam abhinivesaya -Nothing whatsoever should be clung to- không bám víu vào bất cứ điều gì”.Và Ngài còn nhấn mạnh rằng, bất cứ ai, hể nghe được câu nói đó sẽ là người đã nghe được toàn bộ giáo pháp; bất cứ ai hể đem câu nói đó ra thực hành thì là đã thực hành toàn bộ giáp pháp; và bất cứ ai, hể có được thành quả do thực hành câu nói đó, thì là đã đạt được thành quả của toàn bộ Phật pháp. (3)

“Trụ”, an định trong một trạng thái, dù an lạc thực sự hay ảo tưởng, cũng có thể là “vùng nước đọng”; tôn sùng, “thần thánh hóa” một vị Thầy, dù đã giác ngộ hay nghĩ là giác ngộ, sẽ là một bám víu; cố chấp vào một pháp môn đã là sự vướng mắc; tinh tấn hành trì một phương pháp tu tập, ngày qua ngày cũng dể trở thành máy móc và đưa đến nhàm chán ...và với “ý chí cố gắng khắc phục” vượt thắng nhàm chán đó, thì kết quả lại làm cho tâm tánh dể dàng trở nên không còn linh hoạt nhạy cảm, thờ ơ lãnh đạm trước hạnh phúc khổ đau của người khác, nhưng quan trọng hơn hết, nó sẽ làm lớn mạnh thêm bản ngã, vì sẽ rất hãnh diện rằng, “TA” đã thắng được “ta”! Điều này thật là “nguy hiểm!

Phương cách hành trì tu tập nhằm “đối trị”, “diệt trừ”, đã “phân ranh” năng và sở, là “đối đãi” là không phải “pháp môn bất nhị”, và đối với người trong cuộc, nó là một trường chiến đấu gian khổ, mà kết quả sẽ là,dù thành công hay thất bại, thì... “ta vẫn là ta cũa thuở nào”, con đường vạn lý cứ thế quanh quẩn quẩn quanh! Thế mới hay, sự “ra đi” đã khó, nhưng buông bỏ còn khó hơn nhiều, vì ra đi, dù sao cũng còn có chổ để quay về, “con đường sạn đạo” năm xưa còn chưa đứt, dùrằng sự trở về đó có đôi chút ngậm ngùi như người chiến binh thất bại, và có thơ rằng: “Ta về một bóng trên đường lớn, thơ chẳng ai đề vạt áo phai...” (4),trong khi đó, buông ra là mất, mất tiêu! Không còn manh giáp, không bao giờ còn dịp lấy lại, nên rỏ ràng là sợ hải.

Người tu mà “quẳng kinh cởi áo cà sa”, thì có nước là ...“hóa làm ngọn gió thổi qua ba đào” (5). Buông bỏ khiến mình chơi vơi không còn chỗ bám víu, buông bỏ một hình tướng, một sỡ hữu, tiền tài, danh lợi, sự nghiệp, buông bỏ một quan điểm, một cơ sở lý luận, một thói quen ngàn đời...là điều mà ai cũng phải hãi hùng. Trong khi đó bám víu thì an ổn, sự nương tựa nào cũng cho ta một cảm giác ấm áp và an lòng, sự “kiên trì tinh tấn” với ý chí cố chấp không hề lay chuyển khiến lòng cảm thấy chắn chắc, vững vàng ... và như thế cứ tưởng là mình đang đi ... đúng pháp,nhưng mà than ôi, nào hay...!

Ôi, trớ trêu thay cuộc đời, “có” không được mà “không” lại càng không được, cái “không được gì” là cái “có được” cũa người tu. Nhưng có người lại hỏi, làm sao mà “có được” cái “không được gì” đó? thì ra cũng ... lại càng “không có được” cái gì cả! Có như thế mới là “khổ đế” chứ!

Cẩn trọng

Tâm Dũng

Chú thích:

1. “Tụng Kinh”, Thơ Huyền Không, Thích Mãn Giác.

2. http://langmai.org/tang-kinh-cac/kinh-van/kinh-van/kinh-nguoi-biet-song-mot-minh

3. 'Heart-wood from the Bo Tree' by Buddhadasa, page 8-9.

4. “Ta Về”, Thơ Tô Thùy Yên.

5. xin lổi, không nhớ là thơ cũa Thầy nào.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/08/2020(Xem: 22156)
Năm 2020 những chương trình tu học Phật pháp như Phật Đản,Vu Lan, Khoá Tu Học Bắc Mỹ, Khoá an cư của Giáo Hội.v.v...khắp toàn cầu đều phải tạm ngưng vì nạn dịch COVID-19. Tại Mỹ và một số các nước, tất cả học đường phải đóng cửa và chuyển qua online. Giáo sư và sinh viên phải chật vật vì một hệ thống mới hoàn toàn. Sự thay đổi đó làm tất cả mọi người xôn xao và lo lắng, bất an...Bản thân chúng con, lịch giảng của các bang được sắp xếp vào năm trước-2019 phải huỷ bỏ. Phật tử khắp nơi gọi đến thăm hỏi và mong ước có được một lớp học Phật pháp bằng một phương tiện nào đó để tâm được an, thân được nhẹ từ lời giảng dạy trực tiếp của Chư Tăng-Ni. Đây cũng là điều mà chúng con trăn trở và tham vấn ý kiến của Chư tôn đức để chúng con có thể mở ra một chương trình tu học online miễn phí cho tất cả quý Phật tử khắp nơi trên thế giới.
16/08/2020(Xem: 16238)
Người giải thoát giống như một bánh xe quay tròn đều, không bị mắc kẹt, vướng bận, thanh thoát, thông suốt. Họ không còn ý niệm “tôi là như thế này, tôi là như thế nọ, tôi là đây, tôi là kia”. Người tu nhẫn nhục mà thấy ta đang nhẫn nhục là mắc kẹt rồi. Càng nhẫn nhục chừng nào thì CÁI TA càng lớn chừng đó. Nhẫn nhục mà không thấy ta nhẫn nhục thì mới thông suốt. Người tu hạnh khiêm cung mà thấy mình khiêm cung là mà mắc kẹt rồi. Càng khiêm cung chừng nào, thì CÁI TA càng lớn chừng đó. Tu riết như vậy lâu ngày thành bịnh, hết thuốc chữa vì kẹt lâu ngày, bánh xe không quay tròn đều được, thậm chí không thể chuyển động được vì các bộ phận bị ô-xy hóa, bị rỉ sét do chấp pháp, chấp tướng lâu ngày, thành thử bệnh nặng.
16/08/2020(Xem: 11580)
Một pho tượng Phật, được phát hiện trong khi đào móng cho một ngôi nhà tại Mardan, Mardan là một thành phố thuộc Khyber Pakhtunkhwa, Pakistan, hôm thứ Bảy, ngày 18 tháng 7 vừa qua, đã bị công nhân xây dựng địa phương đập vỡ thành nhiều mảnh bởi họ không tôn trọng thánh tích Phật giáo, khiến chính quyền địa phương phẫn nộ và lo lắng.
16/08/2020(Xem: 15480)
Cư sĩ Milton Glaser, người Mỹ, nhà Thiết kế Đồ họa hiện đại, với nhiều công trình nổi tiếng và bền bỉ. Ông đã từ giã trần gian và đã để lại ấn tượng những hình ảnh Phật giáo. Cư sĩ Milton Glaser, người Mỹ, nhà Thiết kế Đồ họa hiện đại đã mãn báo thân, trút hơi thở cuối cùng tại quận Manhattan, thành phố New York, Hoa Kỳ vào ngày 26 tháng 6 vừa qua, vào ngày Sinh nhật lần thứ 91 của ông.
15/08/2020(Xem: 9250)
(Thimphu, Bhutan) – Vào ngày 11 tháng 8 vừa qua, Chính phủ Vương quốc Hy Mã Lạp sơn Bhutan đã áp dụng lệnh phong tỏa toàn quốc đầu tiên kể từ khi đại dịch Virus corona tấn công Vương quốc Phật giáo này. Chính phủ Vương quốc Phật giáo này đã ban hành lệnh cách ly cho khoảng 750.000 người dân, các cơ quan nhà nước cũng đề nghị đóng cửa tất cả các trường học, cơ sở đào tạo và các cửa hàng kinh doanh; hoãn các kỳ thi và không rời địa bàn sinh sống trong thời gian này.
15/08/2020(Xem: 12634)
Sự từ biệt trần gian Ta bà của Cư sĩ Steven D. Goodman (1946-2020) là vô cùng kính tiếc, một sự mất mát cho việc nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng tại phương Tây. Cư sĩ Steven D. Goodman, Giáo sư, Tác giả và Dịch giả nổi tiếng bởi các tác phẩm kinh điển Phật giáo Tây Tạng, đã an nhiên trút hơi thở cuối cùng tại tư gia và về cõi Phật vào ngày 03 tháng 8 năm 2020, Oaklan, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 75 tuổi.
14/08/2020(Xem: 14550)
Phần này bàn về cách dùng tiền quí, cheo, bài ca dao “đi chợ tính tiền” và các cách tính tiền thời trước và thời LM de Rhodes, dựa vào tự điển Việt Bồ La và một số tài liệu chữ Nôm/chữ quốc ngữ. Đây là những chủ đề có rất ít người đề cập đến. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false .
11/08/2020(Xem: 17469)
Ai đã truyền Việt Nam Phật Giáo qua Trung Quốc: Khương Tăng Hội, người Việt Nam. Vào năm nào: năm 247 tây lịch. Nơi nào tại Trung Quốc: Kiến Nghiệp, nay là Nam Kinh. Chùa đầu tiên được xây dựng tại Kiến Nghiệp là chùa nào: Do Khương Tăng Hội xây dựng chùa Kiến Sơ tại Kiến Nghiệp, Nam Kinh, hiện nay, 2020, vẫn còn. Trưỡng lão Hòa Thượng Thích Trí Quảng, Đệ Nhất Phó Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã đến thăm chùa đó cách nay mấy năm và đã xác nhận với tôi tại chùa Huê Nghiêm của Ngài tại quận hai, thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 năm 2017. Khương Tăng Hội mất năm 280. Nghĩa là Ngài hành đạo tại Trung Quốc được 33 năm. Trong khi đó Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Quốc năm 520, nghĩa là sau Khương Tăng Hội 273 năm.
11/08/2020(Xem: 8952)
Được sự thương tưởng và hỗ trợ của chư vị chúng con, chúng tôi vừa thực hiện xong 10 giếng cần giục (Well hand-pump) cho những ngôi làng nghèo lân cận khu vực Bồ Đề Đạo Tràng & Nalanda tiểu bang Bihar India. Đây là Public Well Hand-pump nên cả làng có thể xài chung, người dân nghèo bớt đi rất nhiều nỗi nhọc nhằn vì phải đi lấy nước ngoài sông xa. Kính mời quí vị xem qua một số hình ảnh tường trình.
10/08/2020(Xem: 13000)
Đa số chúng ta, những người có duyên với Phật Giáo, hầu hết đã nghe nói đến, không nhiều thì ít, rằng Phật thuyết pháp, Tổ sư thuyết pháp, Pháp sư thuyết pháp, Hòa thượng hay Thượng tọa thuyết pháp, v.v…, nhưng ít ai nghe nói chim muôn thuyết pháp, phải không? Vì chúng ta thiết nghĩ rằng các loài động vật hay thực vật thì khác với loài người, không có Phật Pháp, không thể nghe hay thuyết Phật pháp, do đó, nên chúng ta có thể nghĩ rằng làm gì có chuyện chim muôn, cây cỏ, v.v… có thể thuyết Phật pháp bằng ngôn ngữ của chúng.