Giờ học khó quên

16/08/201319:04(Xem: 11273)
Giờ học khó quên

vo-hong_2

GIỜ HỌC KHÓ QUÊN

Kính tặng nhà văn Võ Hồng, Nha Trang


Từ năm 1955-1975, những ai học tại trường Trung Học Bồ Đề Nha Trang nói riêng ít nhiều gì cũng được ngắm nét chữ tài hoa, bay bướm; bài giảng ngắn gọn, hàm súc và cốt cách phong lưu, nho nhã của thầy Võ Hồng. Chúng tôi thường kháo nhau: “Kim Trọng hào hoa đến thế là cùng.”

Thầy thường dạy ba môn: sinh vật cho học sinh đệ nhất cấp, nay là phổ thông cơ sở, Việt văn và Pháp văn cho đệ nhị cấp, tức phổ thông trung học, nhưng hình như Thầy thích dạy môn sinh vật nhất. Hẳn là Thầy muốn dành thì giờ cho việc sáng tác văn học. Thầy không những là nhà văn nổi tiếng, rất được độc giả hâm mộ, mà còn là một nhà giáo uyên bát, kinh nghiệm, nghiêm túc và suốt đời tận tụy với sự nghiệp giáo dục. Những tác phẩm văn học của Thầy cũng không ngoài mục đích giáo dục: tán dương cái hay, phê phán cái dở một cách tế nhị, khiêm tốn, nhẹ nhàng…

Những tiết học sinh vật với Thầy thì thật tuyệt vời. Thầy trò làm việc ở lớp lúc nào cũng hài hòa và dung nhiếp như nước với sữa. Thầy dạy thoải mái, ít ghi chép nhưng học sinh nắm được nội dung cơ bản và về nhà học sách giáo khoa. Bài giảng của Thầy thường là những nét vẽ kỳ diệu: khi chấm phá trào lộng, lúc đậm đà sâu sắc, tất cả thể hiện vẻ đẹp thanh lịch và nội lực thâm hậu của Thầy. Cứ nhìn Thầy cắp viên phấn bằng hai ngón tay trỏ và giữa và rồi đi những nét bay bướm, khi hoa lá, côn trùng; lúc cơ bắp, cân cốt từ trái sang phải trên bảng là chúng tôi bắt đầu rọ rạy, liếc nhìn nhau, nhéo nhau và mím miệng để khỏi cười ra tiếng. Thầy chỉ tốn năm, mười phút thao diễn điệu nghệ rồi ngồi vào bàn – trông nghiêm nghị như một quan tòa nhưng hiền hòa như ông Bụt – với ngòi bút lăn đều trên trang giấy. Còn đám học trò chúng tôi tha hồ mà trề môi, méo miệng, tẩy xóa, cà quẹt…, cố chạy theo Thầy với tâm trạng khẩn trương, sảng khoái.

Một hôm dạy bài thân thể người ta, để học sinh có cái nhìn tổng hợp trước khi đi vào nội dung chi tiết, Thầy vẽ khái quát nhưng cực kỳ sinh động. Thứ nhất là một bé gái bụ bẫm, dễ thương, đang ngồi “bô”, hai tay chống cằm với khuôn mặt thụng xuống. Thế là các cô cúi mặt với nụ cười lỏn lẻn, còn các cậu thì ngẩng đầu, gật gù lia lịa với hai tay ôm miệng. Thứ hai là một thiếu nữ có khuôn mặt trái xoan, dáng người thon thả, tay vịn vành nón bài thơ, chân đi guốc cao gót với tà áo dài nghiêng nghiêng phất phơ theo gió trông hấp dẫn và quyến rũ làm sao! Các cậu đã quá, hai tay nắm lại giật giật, còn các cô thì … hồn đang theo mơ! Thứ ba là bà cụ gầy guộc, hóm hém với búi tóc củ hành và cái miệng móm chút xíu đưa tay che trán, nheo mắt nhìn như thể đang vọng trông một người thân sắp về, hay đang tìm một cái gì quý hiếm đã mất. Học sinh bấy giờ lặng yên phăng phắt, căng mắt dõi theo từng nét vẽ đậm nhạt tài tình nhưng “buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”. Và thứ tư là bộ xương người thuần túy với những hốc mắt, hốc mũi, hốc miệng sâu hoắm; răng cái còn cái mất; gân cốt hiện ra ngoằn ngoèo, nhìn phát ớn! Các cậu các cô trông rợn người, ngơ ngác; còn nhóm Tăng sinh thì vô cùng thán phục bàn tay đạo diễn thâm trầm: bốn hình ảnh, một kiếp người với bốn chặng đường: sanh-lão-bệnh-tử hay thành-trụ-hoại-không đang quay cuồng theo nghiệp cảm duyên khởi trong cơn lốc vô thường, vô ngã, sinh diệt và biến dị. Thầy chỉ phát họa đôi nét mà đáp ứng được nhu cầu kiến thức và thẩm mỹ cho học sinh cả lớp, Tăng cũng như tục. Đỉnh cao của nghệ thuật giảng dạy là thế.

Có lần tiếp xúc với thầy Đoàn Văn Điện, Phó Giáo Sư Tiến Sĩ, Hiệu Trưởng Trường Đại Học Dân Lập Lạc Hồng, Biên Hòa, tôi hỏi: “Thầy người Phú Yên, vậy thầy có biết thầy Võ Hồng không?” “Biết chứ! Thầy của tôi.” Thầy Điện nói một cách hãnh diện và trịnh trọng. “Ngày về miền Nam, tôi tìm gặp Thầy tôi liền. Chín năm kháng chiến chống Pháp, thầy trò chúng tôi đã từng ăn khoai lang, khoai mì thay cơm và dắt nhau di tản từ lũy tre này đến hầm mương nọ.” Nghe nói khoai mì tôi mới sực nhớ thảo nào có lần Thầy vẽ cây mì, cây bắp và cây đu đủ trên bảng, nhưng tôi thấy cây mì đẹp hơn cả, đẹp từ gốc đến ngọn, đẹp từ cọng đến lá. Không biết dân miền Trung (Bình Định) chúng tôi thấy cây mì đẹp, hay phải chăng tình cảm quê hương của Thầy đã được gởi gắm vào lá khoai mì!

Rồi một hôm, nhân lúc gác thi môn dịch Việt-Anh tại Đại học Hùng Vương, thấy trong đề thi “Thủ Thỉ Với Dòng Sông” có đoạn: “Mỗi dòng sông khi gặp trở ngại, khó khăn đều luôn đi vòng để tránh chứ không bao giờ chịu lùi.” (Trầm Tư – Võ Hồng). Tôi cảm thấy vui vui, vì ngót ba mươi năm đó đây nối bước chân Thầy, nay lại tình cờ gặp Thầy giữa lớp học với bầu không khí trang trọng. Tôi chợt nhớ cái gì trên đời rồi cũng tan biến theo quá trình sanh-trụ-dị-diệt như Thầy đã có lần trình bày theo phong cách vô ngôn, chỉ có tâm hồn trong sáng, nhân cách cao thượng được thể hiện qua lời hay ý đẹp thì tồn tại với đất trời miên viễn.

Ôi! Vị Lão Sư (chữ Sư này, theo cách viết Hán ngư,õ có bộ khuyển phía trước) khiêm cung, dung dị kia nay ít có dịp qua lại sườn đồi Hải Đức Nha Trang để ngắm nhìn màu hoa thanh long, phượng vĩ, hoa khế, hoa xoài… hay hít thở hương vị ngọt ngào của hoa lài, hoa sứ, nhưng âm hưởng của Lão Sư cứ mặc nhiên trải dài, vang vọng cùng khắp đồng ruộng bao la, núi rừng trùng điệp; cứ mỗi lúc một từ từ thấm đượm vào lòng người lớn giữa quê hương.

Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11/2001, kính gởi đến thầy Võ Hồng cùng tất cả các thầy cô Bồ Đề và Võ Tánh Nha Trang năm xưa lời chúc mừng khánh thọ, an khang, vui vẻ như nụ cười lành của đức Từ Phụ trên đỉnh đồi cao.

(Đã đăng trong tuần báo Giác Ngộ, số 94, ngày 14/11 Mừng ngày Nhà Giáo Việt Nam 20 – 11 – 2001)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/05/2011(Xem: 13668)
Phật Đản lại về, cuối xuân đầu hạ, cây đủ lá xanh tràn trề sức sống, hoa sen rộ nở đóa đóa diệu hồng, trắng mát, tỏa hương khoe sắc, như đón bậc vĩ nhân...
12/05/2011(Xem: 9659)
Hầu hết mọi người Phật tử Việt Nam đều không những có nghe biết mà còn thường xuyên sử dụng từ ngữ “Phật sự” Nhưng chính vì được nghe biết và sử dụng quá thông thường, cho nên, đôi khi chúng ta lại không có cơ hội để suy nghiệm về ý nghĩa thâm diệu của nó để ứng xử một cách kiến hiệu trong đời sống thường nhật. Cũng vì lý do này đã dẫn đến việc đánh mất tinh thần cốt tủy trong các Phật sự mà chúng ta đã, đang và sẽ thực hiện.
11/05/2011(Xem: 9256)
Sống ở đời, chúng ta ai cũng có những nỗi khổ niềm đau, dù ít hay nhiều. Bởi thân thể ta đau nhức là khổ, giận hờn là khổ, tiếc thương cũng khổ… Có rất nhiều yếu tố làm cho ta khổ, nhưng chung quy mọi khổ đau đều xuất phát từ chính mình.
09/05/2011(Xem: 24370)
"Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother's Day) mồng mười tháng năm (năm đó). Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Ðông Kinh (Tokyo), nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng..."
09/05/2011(Xem: 27507)
Bài giảng cuối cùng, Câu chuyện xúc động về Giáo sư Randy --Cuốn sách mà bạn sắp đọc đây là 53 ngày sau đó nữa, là cách GS Randy Pausch tiếp tục những gì ông đã bắt đầu trên giảng đường hôm ấy, với sự giúp đỡ của nhà báo Jeffrey Zaslow. Hằng ngày vẫn đạp xe để tập luyện, trong 53 lần đạp xe như vậy ông đã trò chuyện với Jeffrey Zaslow qua điện thoại di động. Zaslow đã chuyển những câu chuyện thành cuốn sách này. Ngày 8-4-2008, sách được phát hành tại Mỹ. Hơn ba tháng sau, ngày 25-7-2008, gs Randy Pausch qua đời.
07/05/2011(Xem: 32190)
Tác giả Tâm Diệu, là cựu sinh viên của Viện Đại Học Vạn Hạnh, đã gửiđến cho tôi tập sách Quan Điểm Về Ăn Chay Của Đạo Phật.Nội dung chính xoáy quanh những điểm dị biệt trong vấn đề ănchay theo quan điểm của hai truyền thống Phật giáo Nguyên thủyvà Đại thừa phát triển ngang qua một số kinh điển Phật giáo.Tác giả đã nêu bật được tính chất chung Từ bi và TríTuệ của Đạo Phật trong vấn đề này. Tuy nhiên, vẫn còn mộtvài điểm trong đó chúng tôi nghĩ rằng cần phải có thờigian để làm sáng tỏ.
06/05/2011(Xem: 10718)
Như ai cũng biết, chúng ta sinh ra đời để sống và làm việc như bao nhiêu người trên thế gian này. Đó là ăn uống, ngủ nghỉ, rồi lớn lên lấy vợ lấy chồng, đi làm kiếm tiền nuôi bản thân, gia đình và đóng góp lợi ích xã hội, đến khi lớn tuổi về hưu thì già bệnh rồi chết. Đó là nói những người làm việc nhà nước có chính sách chế độ lương hưu. Còn những người tự làm tự sống, không làm việc nhà nước thì họ phải bươn chải đến khi không còn khả năng làm việc nữa mới thôi. Ai có phước thì được con cái chăm sóc, giúp đỡ, nuôi dưỡng khoảng đời còn lại.
04/05/2011(Xem: 12967)
Sống theo đúng năm giới thì sống thọ: Ðó là lời Ðức Phật dạy, mà cũng là một Chân lý được các bậc minh triết phương Ðông khẳng định.
03/05/2011(Xem: 11495)
Phật giáo là một tôn giáo được ngưỡng mộ nhất trên thế giới hiện nay, được sáng lập bởi Đức Phật Thích Ca hiệu Gautama, với niềm tin vào hòa bình, từ bi và trí tuệ...
30/04/2011(Xem: 10959)
Tinh thần Đại thừa Phật giáo nhằm mục đích chuyển hóa cõi Ta-bà uế trược này trở thành Cực-lạc thanh lương. Sự phổ biến Phật giáo khắp mọi tầng lớp quần chúng là điều Phật tử phải thực hiện.