Chùa Lam Sơn Tịnh Độ

30/07/201318:51(Xem: 14215)
Chùa Lam Sơn Tịnh Độ

200-x-314=1


CHÙA LAM SƠN TỊNH ĐỘ

Mười ngày qua tôi đã đến sống và tu tập ở chùa Lam Sơn Tịnh Độ thuộc Thị xã Bình Long – tỉnh Bình Phước. Mười ngày sống trong một cái cốc dành cho khách viếng thăm chùa, ăn ngủ và tu tập cùng với đại chúng đã mở ra cho tôi một cái nhìn mới mẻ về sự nhiệm màu của đạo Phật.

Tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều chuyện màu nhiệm từ công phu tu tập của một vị Hiền Tăng, cải hóa được chúng sanh. Phép màu này chỉ có ở một vị Thầy tu hành khép mình trong giới luật.

Con xin mạn phép Thầy Thích Huệ Viên, kể lại chuyện này cho mọi người nghe, mong thầy hoan hỷ. Thưa quý vị, nếu quí vị tin, đó là phước báu của quí vị, nếu quí vị không tin là sự thật cũng không sao, chuyện này có thể chứng minh bằng người thật việc thật. Bạn cứ đến chùa xem thử, chứng kiến những điều tôi đã trải qua trong mười ngày qua.

Chuyện thứ nhất: Hạnh Bồ Tát cứu độ cho chúng sanh:

Lạc bến mê cuộc đời quay đầu là bờ, lấy Đạo Phật làm tâm, tâm hạnh trổ hoa lành, người hung ác trở nên khiêm nhường.

Chú Ngọc là một cư sĩ, chỉ sống được trong chùa Lam Sơn Tịnh Độ là một câu chuyện dài. Trước khi qui y, chú là một tay ăn chơi lêu lổng tại Thị xã Bình Long, xe Honda chỉ chạy bằng một bánh, kéo dài cả mấy chục mét. Sau khi quy y, bản tính ngang bướng và ngã mạn gây khẩu nghiệp nói năng lung tung, bừa bãi, chú vô chùa ở nhưng không được bền, hết chùa này đến chùa kia, chú đi khắp nơi nhưng vẫn không ở được. Chú quay về với thầy Huệ Viên ở chùa Lam Sơn Tỉnh Độ.

Vì tính ngã mạn nên chú khó lòng chịu nghe lời ai, nhưng chú xác định là chỉ có thầy Huệ Viên mới hướng dẩn và độ được cho chú tu thân thành người Phật tử tốt được. Nghĩ vậy chú quay về xin thầy cho chú vào chùa ở lại, lần này quyết tâm tu đến khi xuất gia cạo đầu thành một vị tăng mới được.

Thầy Huệ Viên bảo chú: Nhiều lần chú rời bỏ chùa mà đi, và đến ở khắp các chùa khác. Nếu chú quyết định quay lại Chùa lần này hãy suy nghĩ kỹ. Quyết tâm rồi chú phải làm một việc, làm được mới ở lại chùa này tu được. Ngày mai đúng 7 giờ sáng chú đến trước cha, mẹ sám hối, xong rồi ra đường lạy Phật từ nhà đến chùa theo phương pháp: tam bộ nhất bái (cứ ba bước đi một bước lạy Phật). Từ nhà chú đến chùa khoảng 2 cây số, phải lạy ngang qua thị xã. Thật không dễ với một thanh niên ngang tàng, nhưng chú đã làm được.

Chú bây giờ là một cư sĩ trong chùa, mỗi ngày lo tu tập dưới sự hướng dẫn của Thầy. Mặc dù chú vẫn còn nhiều thiếu sót, nhưng sự chuyển hóa của chú là một tấm gương sángcho mọi Phật tử khác.

Chuyện thứ hai: Hóa độ chúng sanh bỏ dao quy y.

Một hôm Thầy Huệ Viên được một Phật tử gọi điện thoại nhanh với giọng gấp gáp, Thầy ơi! Thầy trốn đi, người say rượu rất hung hăng vào chùa kiếm thầy Huệ Viên để uy hiếp.

Thầy vẫn điềm nhiên ngồi trong chùa. Người thanh niên rất hung hăng, tóc dài gần tới lưng, cổ đeo nanh cọp, áo ba lỗ, quần cụt xông vào chùa.

Không hiểu sao khi người thanh niên chạy vào chùa rồi, anh ta bỏ dao, đi kiếm áo tràng trong chùa mặc vào rồi bước tới đảnh lễ thầy Huệ Viên đàng hoàng, không còn vẻ hung hăng nữa. (Đây gọi là phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật).

Thầy Huệ Viên điềm nhiên, từ tốn đỡ người thanh niên ngồi xuống ghế, nói chuyện rồi Thầy lấy kéo cắt luôn mớ tóc dài của anh ta. Thầy còn tháo gỡ luôn sợi dây nanh cọp của người thanh niên một cách đường hoàng, giữ sợi dây nanh cọp lại không cho anh ta đeo nữa. Người thanh niên đó nay đã trở thành phật tử rồi.

Từ đó về sau chú hay đến chùa lễ Phật và được thầy khuyên bảo.

Chuyện thứ ba: Tà ma phải kinh sợ vị Thầy Chánh Kiến:

Chính mắt tôi được Thầy cho xem đoạn phim quay lại trong điện thoại người phụ nữ trẻ bị tà ma nhập, la hét om sòm và hôm tôi lên chùa, người phụ nữ ấy vẫn còn ngây ngây, chưa biết đọc kinh, chỉ ngồi nhìn quanh xem đại chúng đọc kinh trong chánh điện. Mấy hôm tôi ở trong chùa, cô ấy đã hồi phục nhanh chóng, ăn uống, làm việc, đọc kinh, lạy Phật mỗi ngày cùng với tôi bình thường. Tôi có hỏi cô ấy về những ngày bị bệnh vừa qua, cô cười và nói em không nhớ gì hết.

Thầy chữa bệnh bằng cách cho lạy Phật và tụng kinh mỗi ngày. Người thân của cô gái phát nguyện lạy Phật mỗi ngày 1000 lạy, lạy trong 20 ngày và cô gái hết bệnh. (Thầy dạy : Như thế mới gọi tu là chuyển nghiệp).

Cô gái tên Hạnh, pháp danh Tâm Hiếu. Hiện nay cố gái ấy vẫn mỗi ngày cùng gia đình đến chùa lạy Phật, sám hối, buổi tối quay về nhà.

Chuyện về chữa bệnh tà ma của Thầy chắc phải viết hết một cuốn sách dày cũng chưa hết. Những chuyện không dễ ai tin cho được mà chỉ tin khi bạn chứng kiến tận mắt.

Chuyện thứ tư: Lòng tin Chánh kiến chữa hết bệnh hiểm nghèo:

Cô Chín, một phụ nữ gầy gò ốm yếu, nhìn cô như người sắp chết. Mấy hôm tôi ở trong chùa, cô cùng ăn, cùng lạy Phật, cùng làm việc trong chùa với tôi. Nhìn cô tôi không cần nghe cô kể, tôi cũng hiểu cô thoát chết nhờ lòng tin vào Phật Pháp mãnh liệt.

Trong người cô bây giờ đủ thứ bệnh hiểm nghèo: từ hen suyễn, ung thư, suy nhược, thần kinh….

Bác sĩ chê cô rồi nên cô bán nhà ở quận 8 xuống Bình Phước ở với em mình. Lúc mới vào chùa, cô đi lê từng bước chân yếu ớt. Muốn lên Chánh điện thật khó khăn vô cùng. Từ ngày lạy Phật, niệm Phật, ở trong chùa để trị bênh bằng tâm linh. Không uống một viên thuốc nào nữa, chỉ lạy Phật mỗi ngày. Đến nay cô đã mạnh khỏe không còn bệnh tật đe đọa nữa.

Chuyện thứ năm:

Một hôm Thầy cùng Phật tử chở ba pho tượng Tam Thánh xuống nhà của phật tử gần đó để làm Lễ an vị Phật. Tôi được chứng kiến thêm nhiều điều màu nhiệm nữa.

Người phật tử mà Thầy làm Lễ an vị Phật giúp cho ngày hôm ấy pháp danh là Đạo Hảo. Đây cũng là một tay không sợ trời đất gì hết một thời quá khứ, bây giờ quy y Phật Pháp và mở phòng thuốc Nam hơn ba năm nay, khám bệnh phát thuốc miễn phí cho tất cả mọi người có nhu cầu và không lấy tiền ai hết. Rất nhiều người từ các tỉnh đổ xô về chữa bệnh, nhận thuốc miễn phí. Mỗi tuần làm việc vào ngày chủ nhật và thứ 2. Bình quân mỗi ngày cấp phát 2.000 thang thuốc. Vậy là 2 ngày có tới 4.000 thang thuốc.

Họ được khám, nhận thuốc miễn phí, sau đó lạy Phật và ăn chay trong thời gian uống thuốc trị liệu.

Chỉ có những vị Thầy Chánh Kiến mới có được những người phật tử thuần thành như chú Đạo Hảo.

Chú trị tất cả các bệnh có thể chỉ bằng cây lá thuốc Nam và Phật pháp. Ai có nhu cầu xin liên lạc với:

Cư sĩ Đạo Hảo – Tổ 1 – Khu Phố Bình Ninh II, Phường Hưng Chiến, Thị Xã Bình Long tỉnh Bình Phước. Điện thoại: 0973. 839.608

Những chuyện mà tôi được thấy, được nghe đều là chuyện thật 100%. Nếu lòng tin của bạn không đủ mạnh, xin mời bạn hãy đến Thị xã Bình Long, Tỉnh Bình Phước để hỏi về Thầy Huệ Viên, trụ trì chùa Lam Sơn Tịnh Độ. Bất kỳ ai cũng có thể chỉ dẫn cho bạn nhiệt tình đường đến chùa.

Mong rằng sau khi bạn đến thăm chùa, bạn sẽ có thêm nhiều câu chuyện mới kể cho những người khác nghe để làm vinh danh những người con Phật!

Nam Mô A Di Đà Phật!

Ngày 17/7/2013

Người viết: Như Nguyện

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 20036)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17284)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14775)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16256)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12249)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11127)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11704)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7646)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8707)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8042)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.