04. Kết luận

06/04/201215:34(Xem: 13594)
04. Kết luận

 

THỜ CÚNG VÀ LỄ BÁI
HT Thích Thắng Hoan

IV.- KẾT LUẬN:

Vấn đề thờ, cúng và lễ bái là những biểu t­ượng tín ngư­ỡng có giá trị chẳng những về phương diện hình thức và còn hữu ích không nhỏ về ph­ương diện tâm linh. Thờ, cúng và lễ bái là nhu cầu cần thiết cho con ng­ười không thể thiếu trong việc tu tập đào luyện đạo đức làm ngư­ời. Vấn đề trên chẳng những cần thiết cho cá nhân mình, cho gia đình mình trong đời này, mà hơn nữa, đây cũng là một nhu cầu hữu ích cho thế hệ con cháu mai sau. Chẳng những thế vấn đề THỜ, CÚNG và LỄ BÁI còn là một yếu tố cần thiết trong việc tạo dựng nhân lành cho cuộc đời mình ở kiếp sau. Điều này rất quan trọng kể cả hình thức lẫn nội dung, kể cả sự t­ướng cho đến lý tánh, để chúng ta và tất cả chúng sanh sớm giải thoát phiền não khổ đau và đư­ợc an vui tự tại trong sự giác ngộ.

Thờ ở đây nhằm thể hiện sự t­ưởng niệm, tỏ bày lòng Tôn Kính dâng lên các bậc Tổ Tiên và các vị Thánh Đức mà mình đã gởi trọn niềm tin. Ng­ười Thờ Cúng và Lễ Bái là tự tạo điều kiện giao cảm, thiết lập điểm tựa cho Tâm Linh giữa họ với Bề Trên mỗi khi cảm thấy tâm hồn lạc lỏng mà chính họ cần đến quyền năng hỗ trợ của Tiền Nhân. Thờ ở đây còn là một hình thức giáo dục gia đình, nhắc nhở con cháu ý niệm đ­ược bổn phận làm người đối với bề trên trong sự nghiệp kế thừa Truyền Thống. Hình Thức Thờ Tự cũng tạo ph­ương tiện cho con cháu noi g­ương đức hạnh của Tiền Nhân để soi sáng cõi lòng tu tâm d­ưỡng tánh.

Cúng ở đây nhằm tri ân sâu dầy của Tổ Tiên, của Thánh Hiền đáng kính với sự dâng hiến lễ vật quý trọng và mong cầu ơn trên chứng minh gia hộ. Ngoài ra Cúng kỵ còn tăng trưởng ph­ước Ông Bà cho dòng họ Cháu Con và tăng tr­ưởng Đạo Lực giải thoát cho Tín Đồ qua hệ thống Tâm Linh làm gạch nối giữa ng­ười nguyện cầu với các bậc Tiền Nhân Thánh Đức. Có thể nói Cúng Kỵ rất cần thiết cho việc giáo dục gia đình ý niệm Truyền Thống Tổ Tiên, lý tư­ởng Giống Nòi và làm tròn nghĩa vụ Đạo Đức con người. Muốn bồi d­ưỡng Tâm Linh lành mạnh, ng­ười Đạo Đức và Hiếu Nghĩa không thể không Thờ, Cúng và Lễ Bái Tổ Tiên, Ch­ư Phật và Thánh Hiền.

Lễ Bái ở đây nhằm báo ân với cung cách quy ng­ưỡng, h­ướng về, cũng nh­ư noi g­ương đức hạnh cao quý và ý chí siêu thoát của các bậc Tôn Kính để tu tập. Ng­ười Lễ Bái mong cầu sau này kế thừa xứng đáng sự nghiệp của Tiền Nhân trên con đư­ờng giác ngộ và giải thoát khổ đau sanh tử. Phận làm cha mẹ cần phải giải thích cho con cháu hiểu rõ ý nghĩa và giá trị Thờ, Cúng và Lễ Bái. Con cháu nhờ đó tiếp nối sự nghiệp Thờ, Cúng và Lễ Bái của Tổ Tiên cho đúng đạo lý.

Truyền Thống Văn Hóa Việt Nam, Vấn đề Thờ, Cúng và Lễ Bái là hình ảnh linh động nhất, cao đẹp nhất, sâu đậm nhất của một Dân Tộc có hơn Bốn Ngàn Năm Văn Hiến. Hình ảnh Thờ, Cúng và Lễ Bái làm sống dậy tinh thần Hiếu Nghĩa và Đạo Đức Nhân Luân của con Lạc cháu Hồng, Việt Nam bất diệt.

CÁC KINH LUẬN THAM KHẢO

* Khảo Nghiệm Duy Thức Học, Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội xuất bản.

* Câu Xá Luận, quyển 1 và 4.

* Thuận Chánh Lý Luận, quyển 10.

* Thành Duy Thức Luận, quyển 7.

* Bánh Pháp Minh Môn Luận Sớ, quyển Th­ượng.

* Thành Duy Thức Luận Thuật Ký, quyển 7 Mạt.

* Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 3 và quyển 5.

* Đại Nhật Kinh Sớ Diễn áo, quyển 2.

* Phật Học Đại Từ Điển, quyển 4, Trang 3997-3998.

* Hoa Nghiêm Kinh Sớ, quyển 8.

* Kinh Tăng Nhứt A Hàm, quyển 27 và quyển 41.

* Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ

* Kinh Di Giáo.

* Kinh Phổ Hiền, Phẩm Hạnh Nguyện.

* Tứ Thập Hoa Nghiêm Kinh, quyển 13.

* Kinh Thập Địa Luận, quyển 3.

* Kinh Phạm Võng, quyển Hạ

* Ma Ha Tăng Kỳ Luật, quyển 25 và quyển 27.

* Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa, quyển 18.

* Tứ Phần Luật, quyển 60.

* Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện, quyển 4.

* Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 20.

* Đại Đư­ờng Tây Vực Ký, quyển 2.

* Thích Môn Quy Kính Nghi, quyển Hạ.

* Tỳ Nại Da Tạp Sự, quyển 15.

* Đại Bảo Tích Kinh, quyển 43.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2025(Xem: 4595)
Khi nào bạn thấy tâm và cảnh vốn là không, bạn sẽ thấy bất kỳ nơi nào cũng là Niết Bản. Lời dạy đó là từ một bài thơ của Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) khi ngài dạy ý chỉ Thiền tông cho vua Trần Nhân Tông. Lời dạy đó cũng là đúc kết từ nhiều Kinh khác nhau do Đức Phật truyền dạy.
10/02/2025(Xem: 7748)
Trong tạng kinh Nikàya (Pali), cụ thể là Kinh Tương Ưng Bộ Samyutta Nikàya, Tương Ưng Nhân Duyên, những gì Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chứng ngộ, thấy biết như thật tương ưng với những gì chư Phật quá khứ đã chứng ngộ và thấy biết như vậy. Thế Tôn gọi đó là TÙY TRÍ (Tùy trí chư Phật quá khứ: thấy biết giống như chư Phật quá khứ đã thấy, đã chứng ngộ). Đấng Thiện Thệ cho rằng những ai Tùy Trí như vậy sẽ có Pháp Trí (tức là Pháp Trí như vậy do Tùy Trí Chư Như Lai mà có, nên tràn đầy ánh quang minh hay Pháp Quang).
06/02/2025(Xem: 10057)
XUÂN VÀ CON ĐƯỜNG CỦA BỒ TÁT ĐI Pháp thoại Hòa thượng Thích Thái Hòa giảng cho Phật tử ngày mùng 2 tết Giáp Thìn, tại Tịnh Nhân Thiền đường, Tự viện Phước Duyên - Huế Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật.
05/02/2025(Xem: 7460)
Trời xuân ấm vạn nẻo đường Đất xuân ấm giữa vô thường thế gian; Non xuân đứng giữa núi ngàn, Nước xuân chảy giữa muôn vàn điệu ru;
05/02/2025(Xem: 6711)
Trong cuộc sống chúng ta thường lẫn lộn giữa thực tế và ước mơ, thế nhưng ước mơ cũng có thể giúp chúng ta nhìn vào thực tế một cách thực tế hơn, hoặc ngược lại thì thực tế đôi khi cũng có thể khơi động và làm sống lại các ước mơ của mình trong quá khứ. Câu chuyện mà tôi sắp thuật lại dưới đây nêu lên các ước mơ của một người mẹ hiện lên với mình như một sự thực, và các ước mơ của một người con mãi mãi vẫn là ước mơ.
05/02/2025(Xem: 7466)
NẾN VU LAN THẮP SÁNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG Trong truyền thống Phật giáo, lễ Vu lan là ngọn nến hiếu hạnh thắp sáng giữa đời thường để cho ai có mắt thì được thấy, có trí thì được sáng tỏ, có tâm thì cảm và có tình, thì tình thêm sáng đẹp, rộng và sâu.
05/02/2025(Xem: 9054)
CÁC PHÂN KHOA PHẬT GIÁO Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu.
04/02/2025(Xem: 4534)
Có một bài thơ khó hiểu trong Thiền Tông. Bài thơ có tên là Ngũ Vị, có khi gọi là Động Sơn Ngũ Vị, và có khi gọi là Ngũ Vị Quân Thần. Bài thơ khó hiểu phần vì dùng nhiều chữ xưa cổ, nhiều hình ảnh thi vị, và vì chỉ cho một số chặng đường tu học trong Thiền Tông. Bài này sẽ tham khảo nhiều giải thích để làm sáng tỏ bài thơ này.
03/02/2025(Xem: 5817)
Đầu Xuân nghe nhạc phẩm "Xuân nầy con không về" do con mình từ xa gửi về, gợi nhớ lại những năm tháng lao lý. Lần đầu tiên trong đời vào nằm trong nhà lao ở vùng hiu quạnh nơi rừng xanh xa lạ. Một cuộc đời tù mà không có tội trong buổi giao thời của đất nước sang trang. 30 năm làm tu sĩ, trãi qua nhiều Tỉnh thành, từ thôn quê đến phố thị, qua bao mùa Xuân trên đất nước chiến chinh, cũng bao lần nghe nhạc Xuân, kể cả nhạc phẩm "Xuân nầy con không về", thế mà lòng không khỏi xúc động khi nghe văng vẳng giữa đêm khuya, từ nhà dân, có lẽ xa lắm, vọng lại.