05. Nhận ra thân hữu

08/02/201203:01(Xem: 13278)
05. Nhận ra thân hữu

NHẬN RA THÂN HỮU
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 22/10/2011


Trong khi con thấyrằng những ai thân cận với con
đang chìm đắmtrong đại dương luân hồi
Và giống như rơivào cơn bão lửa
Không có gì ghêsợ hơn để hành động
cho sự giảithoát của riêng con,
Quên lãng nhữngai con không
nhận ra qua tiếntrình sinh tử.
-CHANDRANGOMIN,Lá thư cho một học trò

dalailama002smĐãtạo nên một thái độ bình đẳng đối với bạn hữu, kẻ thù, và người trung tính,chúng ta có một nền tảng để nhìn mỗi con người như người bạn thân nhất củachúng ta. Khuynh hướng bây giờ là đểphát triển một cảm giác chân thật về sự mật thiết với mọi người. Vì sự mến chuộng được phát sinh một cách dễdàng cho bạn hữu, chúng ta cần một kỹ năng cho việc trau dồi việc nhận thức tấtcả chúng sinh như bạn hữu, sử dụng chính những mối quan hệ thân hữu nhất củachính chúng ta như kiểu mẫu. Ai là ngườibạn thân nhất của chúng ta?

Mộtsự phương pháp khác là sử dụng lòng yêuthương vô điều kiện của bà mẹ của chính mỗi chúng người như một kiểu mẫu. Bởi vì tôi được xác nhận như sự tái sinh của Đức Đạt Lai Lạt Mathứ mười ba nên tôi đã không sống tại nhà cho đến ba hay bốn tuổi. Như một đứa trẻ, tôi đã thăm mẹ tôi thực tế mỗingày, hay bà sẽ đến để gặp tôi, vì gia đình tôi sống gần nơi cư trú của tôi ởLhasa, thù đô của Tây Tạng. Bà luôn luôncó một trái tim hiền lương, rất tử bi, ân cần trong một sự cư xử rộng rãi đối vớingười khác, những người nghèo túng. Bà tửtế đến mọi người. Bà không bao giờ gắt gỏngđối với tôi, mặc dù sau này bà nói với tôi rằng tôi sẽ khó chịu nếu không vừaý, và tôi sẽ giật mạnh lỗ tai của bà khi bà đang bồng tôi. Bà đã nói rằng, một ngày nọ tôi đã đã kéo rấtmạnh và làm tổn thương vành tai của bà.

Từlúc tôi bốn tuổi, người đem thức ăn cho tôi mỗi ngày ở Lhasa là một ông già hóiđầu, râu quay nón tên là Ponpo. Tôi rấtgần gũi với ông; ông giống như một bà mẹ. Khi tôi ở tại cung điện Mùa Hè học thuộc lòng những bài kinh luận, ôngluôn luôn ở gần bên; tôi sẽ khóc nếu ông không làm thế. Tối thiểu tôi phải thấy vạt áo của ông trongkhi ông ngồi phía bên kia bình phong khoảng gần một thước từ cửa ra vào. Ông phải ở đấy; bằng nếu không, tôi sẽkhóc. Ponpo, là người đã từng nấu ăn choĐức Đạt Lai Lạt Ma tiền nhiệm, không biết kể chuyện như thế nào, không biết đùagiờn như thế nào, và không được học hỏitrong hình thức hoặc là tôn giáo hay những chủ đề khác. Tôi rất quý trọng ông vì ông đã cung cấp thứcăn và săn sóc tôi.

Đốivới tôi dường như chúng ta, giống như những động có vú như chó và mèo, thương mếnnhất những ai nuôi nấng chúng ta. Chúngta thương mến bà mẹ của chúng ta không phải bởi vì các bà đã sinh ra chúng tanhưng bởi vì các bà đã cho chúng ta sữa và săn sóc chúng ta. Khi tôi bệnh, Ponpo cõng tôi đi xung quanhhay để tôi trong lòng ông. Khi chúng taôm một con mèo trong lòng, con mèo con sẽ rên ư ư thích thú; cũng giống với nhữngđứa trẻ. Tôi rất thích ông ta.

Mọingười, cho dù có tín ngưỡng hay không, có thể thấu hiểu từ kinh nghiệm tự nhiênvà ý nghĩa thông thường rằng tình cảm quan trọng một cách thật sự từ ngày đượcsinh ra; đấy là căn bản của đời sống. Chính sự sống còn thân thể của chúng ta đòi hỏi tình cảm của người khác,đến điều mà chúng ta cũng đáp ứng bằng tình cảm. Mặc dù điều này hòa lẫn với luyến ái hay dínhmắc, nhưng tình cảm này không căn cứ trên sự hấp dẫn của thân thể hay tình dục. Loại tình cảm này, mặc dù không phải khôngthiên kiến, nhưng có thể được mở rộng để bao trùm tất cả chúng sinh, làm nókhông định kiến. Đây là những gì gọi làmở rộng tình thương cùng khắp hay mở rộng từ ái.

Đốivới những thiền quán theo sau, nếu mối quan hệ đối với mẹ của hành giả phức tạp,thay vì thế chúng ta có thể quan tâm đến mối quan hệ tình mẹ lý tưởng, haychúng ta có thể sử dụng bất cứ người thân, người bạn, hay bất cứ thành viên nàocủa gia đình.

THIỀNQUÁN

Trướcnhất, chúng ta hãy quan tâm đến nền tảng của loại thiền quán này. Sự sắp xếp được xây dựng trên giả định củatái sinh, là điều chúng ta có một ý niệm mơ hồ có thể là đúng, chúng ta có thểsử dụng để khảo sát kỷ lưỡng mối quan hệ mật thiết của vô thỉ tái sinh cho nhữngmối quan hệ với những người khác. Tuynhiên, nếu chúng ta không hoài nghi rằng tái sinh là thật, vẫn có thể sử dụngnhững bước này như một sự thực tập quán tưởng thuần khiết để giúp tháo gở những gút mắc trong nhữngmối quan hệ của chúng ta.

1- Quán chiếu rằngnếu có tái sinh, vòng luân hồi, có nghĩa rằng những sự sinh của chinh chúng talà không có bắt đầu (vô thỉ).

2- Quan tâm rằngkhi chúng ta sinh ra từ một bào thai như một con thú, hay một con nhền nhện,chúng ta đòi hỏi một bà mẹ. Và bởi vì sự sinh của chúng ta là vô số, chúng ta phải cóvô số bà mẹ trải qua nhiều kiếp sống. Điềunày ngụ ý rằng mỗi chúng sinh đã từng làmẹ của chúng ta vào một kiếp sống nào đấy. Nếu quý vị có rắc rối đến với kết luận ấy, thế thì hãy thấy quý vị có thểđi theo sự tương tục của những đời sống hay không và khám phá ra rằng có bất cứchúng sinh nào không từng là bà mẹ của chúng ta hay không, một kết luận như thế là không thể được.

3- Quán chiếu rằngnhững lúc chúng ta được sinh ra từ một bào thai hay một cái trứng là vô hạn, vàvì thế các bà mẹ của chúng ta cũng là vô số.

4- Phản chiếutrên những điểm này, hãy thấu hiểu rằng mỗi chúng siinh trong kiếp sống hiện tại của chúng ta đã làbà mẹ của chúng ta trong nhiều lần. Đừngvội vã qua những bước này; khuynh hướng ở đây là không chấp nhận một sự hợp lý(logic) nông cạn, mà thấm nhuần tâm thức và thái độ của chúng ta với tác động củanhận thức về tái sinh. Hãy cố gắng trênđiều này, ví dụ như thế, và xem nó có hữu dụng hay không.

* Hãy nghĩ về một người bạn thân nhấtcủa hành giả và xác định rằng người bạn này, qua tương tục của những kiếp sống,đã là một người bạn nuôi nấng [ta]. Hãygiữ người này trong tâm cho đến khi ta cảm thấy một sự thay đổi nhận thức.

* Sau đó dần dần xem người khác, khôngquá gần gũi, những người bạn, từng ngườimột trong cùng một cách như thế, xác nhận và cảm nhận rằng qua sự tương tục củanhững kiếp sống, họ là rất gần gũi với ta.Điều này có thể cần nhiều ngày để thực hành - ngay cả hàng tuần.

* Rồi thì đem đến tâm một người trungtính - người nào đấy không từng giúp đỡ cũng không từng làm tổn hại ta trong kiếpsống này. Hãy xem rằng người này qua nhữngkiếp sống cũng có những lúc nào đấy là một người gần gũi và nuôi nấng như ngườibạn thân thiết nhất của chúng ta.

* Dần dần mở rộng sự nhận thức này đếnnhững người trung tính - những người đã thấy trong một trạm xe điện ngầm, đingang qua trên đường, hay thấy trong một cửa hàng.

* Khi chúng ta trở nên thành thạo thếnào ấy với việc nhận ra những người bạn và những người trung tính đã từng nuôinấng ta, và có thể cảm thấy nhận thức của chúng ta thay đổi như thế nào, xemxét một người nào đấy đã từng làm gây hại một ít đến ta hay người thân chúngta. Hãy bắt đầu với một kẻ thù thứ yếu,như một người đã nói điều gì đấy bình phẩm ta, vì thế chúng ta có thể phát triểnmột kinh nghiệm với việc tạm thời để qua một bên những cảm giác tiêu cực trongthiện ý của việc thực chứng rằng tại một thời điểm nào đấy chúng ta đã là từnglà những người bạn thân. Nếu chúng ta nhảyquá nhanh trong việc lưu tâm đến nhữngngười mà chúng ta thật là không thích, thì ý tưởng tiêu cực sẽ có thể làm lưỡnglự tiến trình của chúng ta.

* Khi chúng ta cảm thấy quan điểm củachúng ta đã thay đổi đối với kẻ thù không quan trọng, trụ lại với thái độ mới ấytrong một lúc, rồi thì quan tâm một cách chậm rãi đến trình độ tiếp theo của kẻthù (kẻ thù nặng cân hơn).

Qua sự thực tập, có thể xem mỗi chúngsinh như một người thân hữu. Nói thì dễ,nhưng làm thì khó. Đừng trở nên thốichí; hãy duy trì sự diễn tập những bước này hết lần này đến lần khác. Tích tập kinh nghiệm một cách từ từ.

Đối với tôi, do tôi mang trách nhiệm vìquyền lợi của Tây Tạng, những người khó khăn nhất để nhận thức như những thân hữulà những ai đang làm tổn hại đến đồng bào Tây Tạng một cách chủ tâm. Tuy thế, từ kinh nghiệm với những thân hữu,người trung tính, và những kẻ thù ít quan trọng, tôi có thể thấy rằng một cáchcăn bản họ không có khác biệt.

Điều gì đã làm tôi khỏi bị chán nản mặcdù hơn năm mươi năm hành động cho Tây Tạng không có nhiều thành công trước nhấtvì nguyên nhân là công bằng, chân thật, và lợi ích cho người khác. Nguyên nhân chân thật chưa đủ; nó phải ích lợi. Việc làm của tôi cho Tây Tạng không gia tănghoặc là tiếng tăm của tôi, ảnh hưởng của tôi, năng lực của tôi, hay lợi ích củatôi trong bất cứ cách nào; đấy là cho đồng bào Tây Tạng, những người có quyền đểđược tự do và để bảo tồn giáo huấn Đạo Phật lợi ích đến tất cả chúng sinh. Vì vậy, cho dù chúng tôi có đạt được mục tiêutrong kiếp sống này của chúng tôi hay không, thì nó đáng giá để duy trì cuộc đấutranh. Chúng tôi đang ở vào một thời điểmcấp bách qua việc người Hoa đổ nhanh chóng vào Tây Tạng; giống như Mãn Châu vàNội Mông, là những nơi đã hoàn toàn trở thành bị đồng hóa với văn hóa Hán tộc. Văn hóa Tây Tạng có thể bị biến mất nếu xu hướnghiện tại tiếp diễn. Một dấu hiệu hy vọnglà bây giờ mọi người trên thế giới kể cả chính nhiều người Hoa, đang ý thức hơnvề những gì đang xảy ra - khả năng mất mát có thể có đối với thế giới vềmột nềnvăn hóa quý giá và do vậy có sự quan tâm đạo đức hơn. Vấn đề sẽ tiếp tục từ thế hệ này sang thế hệ khác không giống như một nhiệm kỳ chính trịở văn phòng, nó không có giới hạn bởi một sự phân ranh giới nào đó cua thờigian. Đây là những lý do của tôi cho việcduy trì lòng nhiệt huyết.

KỸ NĂNG HỖ TRỢ

Giữa những sự thiền quán, thảng hoặc xácđịnh bất cứ ai mà chúng ta chạm trán như là một thân hữu giúp cho sự trưởngthành. Thí dụ, khi đi ngang qua một ngườitrung tính (không thân cũng không thù) trong một đám đông, hãy nghĩ: Con người này dường như không có bất cứ liênhệ nào đối với tôi trong kiếp sống này, nhưng qua sự tương tục của những kiếp sống chắc chắn đã từng là cha, mẹ, con, hay bạnthân của tôi. Trong cách này, chúng ta sẽtừ từ phát triển một cảm nhận rằng tất cả chúng sinh là những thân hữu củachúng ta.

LƯỢNG ĐỊNH THÀNH CÔNG

Với nhiều thực tập sẽ đi đến điều: ngay cả khi chúng ta thấy một bọ, chúng ta sẽnghĩ, Ô, con vật này đã được sinh ra trong một điều kiện khổ sở như vậy! Mặc dù tôi là một con người, và tạo vật nàylà một con bọ, trong quá khứ đã là mẹtôi, và tôi là con của bà. Vào lúc ấy, sựsống của tôi tùy thuộc vào bà, và bà đã yêu thương tôi hơn cả đời sống củachính bà. Sau sự thiền quán đầy đủ, loạisuy nghĩ này sẽ sinh khởi một cách tự phát. Dấu hiệu của việc có nhận thức hoàn toàn thành công về vấn đề tất cảchúng sinh như những thân hữu giúp cho sự trưởng thành là khi chúng ta nhìn vàothế giới chung quanh chúng ta và nghĩ, những chúng sinh từ thú vật trở lên đã từng chăm sóc tôi trong những thờiquá khứ không chỉ chăm sóc tôi một lần mà là nhiều lần.

Nguyêntác: The First Step: Recognizing Friendstrích từ quyển How to Expand Love
ẨnTâm Lộ ngày 22/12/2011

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14395)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20361)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17629)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15106)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16896)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12852)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11717)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12316)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8258)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9210)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.