1. George Turnour (1799 -1843)

29/03/201103:01(Xem: 11294)
1. George Turnour (1799 -1843)

CÁCHỌC GIẢ ANH QUỐC VÀ PHẬT GIÁO ÂU MỸ
HT.Thích Trí Chơn
Nhà xuất bản Phương Đông 2010

GEORGE TURNOUR(1799 -1843)

George Turnour sanh năm 1799, gốc người Anh Quốc, là nhân viên ngành Dân Sự (Civil Ser- vice) làm việc tại thành phố Ratnapura ở Tích Lan. Trong thời gian này, G. Turnour đã học hỏi, nghiên cứu nhiều năm tiếng Sinhalese và cổ ngữ Pali với các nhà sư Tích Lan uyên bác Phật Giáo đương thời. Về sau, ông trở thành một trong những học giả Tây Phương đầutiên có kiến thức sâu rộng về thánh ngữ Pali.

Suốt mười năm kiên nhẫn, chăm chỉ làm việc, năm 1837 G. Turnour đầu tiên cho ấn hành tại Colombo bản phiên âm tiếng Pali theo mẫu tự La Tinh(Romanized Pali) cuốn Ma- havamsa (Ðại Sử của Tích Lan). Công trình này của ông được xem như một biến cố trọng đại trong việc khám phá, nghiên cứu nền văn học Phật Giáo thánh ngữ Pali của Tích Lan bởi các học giả Tây Phương.

Cũng trong năm 1837, G. Turnour cho phát hành bản dịch từ Pali ra AnhVăn 38 chương đầu trong số 100 chương cuốn Mahavamsa (Ðạisử Tích Lan). Dịch phẩm này của G. Turnour đã gây sự chú ý không ít đốivới các học giả và nhân viên chính quyền Anh Quốc bấy giờ trong việc giúp họ nghiên cứu các di tích những thành phố cổ xưa ở Tích Lan. Năm 1868, thống đốc Tích Lan, ông Hercules Robinson chỉ thị thành lập Viện Khảo Cổ Tích Lan (Ceylon’s Archaeologi- cal Department) và Ủy Ban nhằm đi sưu tập, ghi chép các bia ký trong nước. Do nổ lực khảo cứu của Viện Khảo Cổ Tích Lan, nhiều di tích các chùa tháp kiến tạo bởi các vua Tích Lan thời xưa đã được tìm thấy.

Sau khi thành công trong việc dịch ra Anh ngữ nửa phần cuốn Mahavamsa(ÐạiSử Tích Lan), học giả G. Turnour dự tính dịch tiếp phần còn lại của tácphẩm này; nhưng rất tiếc vì đau bệnh nặng, ông đã không thực hiện được.Các chương còn lại của cuốn Mahavamsa sau này đã được dịch và hoàn tất bởi học giả L. C. Wijesinha vào năm 1889.

G. Turnour mất năm 1843 tại Naples, miền nam nước Ý (Italy), hưởng thọ 44 tuổi.

G. Turnour được xem như một trong những học giả tiền phong đã góp phần to lớn vào công việc nghiên cứu và phổ biến thánh ngữ Pali của nền Phật Giáo Tích Lan cho giới độc giả Phật tử ở các nước Tây Phương.

Học giả T.W. Rhys Davids (1843-1922) trong tác phẩm của ông “The History and Literature of Buddhism”(Lịch Sử và Nền Văn Học Phật Giáo) tái bản in lần thứ năm tại Cal- cutta (Ấn Ðộ) năm 1962 (trang 31-32), đã tán thán công đức hoằng pháp này của G. Turnour như sau:

“G. Turnour, con người rất bận rộn, đứng đầu Cơ Quan Dân Sự tại Tích Lan, với sự giúp đỡ của các học giả Tích Lan, thông minh và nhiều kiến thức; ông đã viết, đăng tải trên tạp chí ‘Bengal Asiatic Society’ (Hội ÁChâu tại Bengal) một loạt những bài khảo cứu về kinh tạng Phật Giáo tiếng Pali. Năm 1837, G. Turnour cho ấn hành toàn bộ phiên âm thánh ngữ Pali theo mẫu tự La Tinh (Romanized Pali) cuốn Mahavamsa (Ðại Sử Tích Lan) cùng với bản dịch tiếng Anh.

“Giá trị sự đóng góp này của G. Turnour đã được giới học giả Phật tử khắp nơi hoan nghênh. Nhưng ngay sau khi G. Turnour vừa qua đời, không tìm thấy được ai có thể đảm trách công việc dịch thuật của ông. Thời ấy chưa có sách văn phạm và tự điển Pali. Các học giả châu Âu bấy giờ khôngthể đến Tích Lan; và tại quê nhà họ có thể tiếp nhận sự lợi ích qua công trình đóng góp, phổ biến về kiến thức văn học Phật Giáo tiếng Pali của G. Turnour. Dịch phẩm thánh ngữ Pali của ông ra đời như một biến cố trọng đại tại xứ Tích Lan chưa phát triển, và nó được sử dụng như một động cơ tiếp tục thúc đẩy cho các học giả Tây Phương chú tâm nghiên cứu thêm về cổ ngữ Pali này”.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/01/2026(Xem: 2725)
Tưởng cũng nên nhắc lại, kể từ khi quyết định từ bỏ lối sống khổ hạnh đức Phật cũng không quay lại lối sống lợi dưỡng, mà vạch ra đường lối tu Trung đạo, Ngài biết rằng tu bằng đường Trung đạo sẽ tác thành, sẽ đưa đến giác ngộ. Năm vị đạo sĩ đồng tu thấy thế liền chê trách: “Đạo sĩ Gautama không đủ kiên nhẫn”, họ liền bỏ đi; không vì thế mà thối chí ngã lòng, một mình Ngài trong chốn rừng sâu tu tập.
21/01/2026(Xem: 2609)
(1):Hãy nhớ: Thập Thiện là pháp môn căn bản. Là thềm thang dùng cho hàng vạn pháp môn. Nên dù tu, mong cầu thấp hoặc cao hơn. Đều khởi từ Thập thiện, ta cần nhớ ghi.
21/01/2026(Xem: 3127)
Những bài Phật pháp chia sẻ ở đây. Mong ai thực tập hàng ngày được vui. Đời vốn dĩ có lắm thứ khổ rồi. Nên cố sửa xấu để đời tốt hơn.
21/01/2026(Xem: 3261)
Nỗ lực đúng đắn trăm phần. Quá nhiều điều xấu ác cõi trần: lánh xa. Quyết chí thực hành Điều Thiện hợp tâm ta. Định đã giữ đúng, quả thật là tuyệt thay!
12/01/2026(Xem: 2701)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm.
12/01/2026(Xem: 2864)
Phần này bàn về chương 16 trong cuốn Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện của pháp sư Nghĩa Tịnh. Chương này chỉ có 93 chữ, không kể tựa đề gồm bốn chữ là Thỉ Trợ Hợp Phủ (tạm dịch/NCT: tục dùng thìa và đũa). Tuy rất ngắn nhưng lại có nhiều thông tin sâu sắc về đời sống tăng đoàn Phật giáo, tập tục của Ấn Độ và Trung Hoa vào TK 7.
04/01/2026(Xem: 3437)
PHÁP NGỮ Hòa Thượng Thích Thái Hòa giảng tại chùa Phước Duyên, Huế MỤC LỤC 01 Giảng cho Đạo tràng Phát Bồ Đề Tâm ngày 6/2/2022. 1 02 Giảng cho Đạo tràng Bát Quan Trai ngày 06/03/2022. 16 03 Giảng cho Đạo tràng Bát Quan Trai, ngày 13/03/2022. 29
30/12/2025(Xem: 3431)
Phật dạy: kém Phước làm gì cũng không thành. Dù học cao, tài giỏi, thông minh mức nào. Phước dẫn dắt mọi hành động: phải khắc sâu. Nên TU TẬP tạo Phước hàng đầu mới yên.
30/12/2025(Xem: 3622)
Long Thần, Hộ Pháp ở quanh ta. Lành, Dữ ta làm khó giấu qua. (sưu tầm) Bất chợt làm điều gì thật nhỏ. Biết là việc ác, gấp lìa xa.
23/12/2025(Xem: 3967)
Đối với Đức Phật, việc BIẾT ƠN và ĐỀN ƠN là vô cùng quan trọng nên trong Kinh Tăng Nhất A Hàm có ghi lời Phật dạy như sau: “Này các thầy Tỳ Kheo! Nếu người nào BIẾT ƠN và ĐỀN ƠN, cho dù ở cách xa Ta ngàn dặm nhưng Ta vẫn xem người đó như đứng hầu gần bên Ta. Còn nếu như người nào KHÔNG BIẾT ƠN và ĐỀN ƠN, cho dù người đó có đứng hầu gần bên Ta nhưng Ta vẫn xem họ cách xa ngàn dặm”.