Thay đổi bản thân mình trước!

27/02/201117:42(Xem: 10223)
Thay đổi bản thân mình trước!
 
CHÌA KHÓA SỐNG LẠC QUAN
Lại Thế Luyện

Chương 3: Chìa khóa sống lạc quan

Thay đổi bản thân mình trước!

Nhiều người luôn bi quan nghĩ rằng, sống trên cõi đời này, chỉ vì lòng dạ thiên hạ xấu xa quá nên cuộc sống hằng ngày toàn là những chuyện buồn nhiều hơn chuyện vui, toàn những lý do khiến chúng ta dễ bi quan hơn là lạc quan. Sự thật có như thế không?

Sự thật là thiên hạ xấu xa hay chính bản thân mình xấu xa? Và nếu bản thân mình cũng xấu xa, thì dựa vào đâu để trách móc thiên hạ? Có lẽ chúng ta đừng nên trách móc người trong thiên hạ thế này thế nọ. Khi chúng ta trách móc họ thì ngược lại, họ cũng sẽ trách móc chúng ta rằng "Vì sao cứ trách móc hoài vậy?"

Dù rằng trong cuộc sống hằng ngày, bạn có thể gặp nhiều chuyện thấp hèn do người khác gây ra, nhưng nếu bạn biết suy nghĩ khác đi, mọi việc sẽ trở nên khác đi. Cứ để tâm đến những chuyện lặt vặt của người khác sẽ làm cho bản thân ta cũng hóa thành kẻ lặt vặt. Còn nếu bạn cứ suy nghĩ giống hệt như những gì đã xảy ra, thì đến một lúc nào đó, bản thân bạn cũng thành ra thấp hèn như thế mà thôi!

Những người bi quan thường chỉ nhìn thấy những điểm xấu của người khác để rồi tiếp tục sống trong bi quan. Trái lại, những người lạc quan khi nhìn thấy những gì còn chưa tốt của người khác và của chính mình, họ lại có lý do để tìm cách thay đổi bản thân mình. Bởi vì, cuộc sống chỉ có thể thay đổi một khi mỗi người chúng ta có ý thức thay đổi bản thân mình trước!

Phản ứng thường thấy ở những người bi quan là họ luôn đòi hỏi thiên hạ phải thay đổi thế này thế nọ. Trong khi đó, họ ít khi đặt ra vấn đề phải thay đổi bản thân mình. Đây cũng chính là thái độ thường thấy ở những người chưa đạt đến một mức độ trưởng thành nhất định về nhận thức cuộc sống.

Khi còn bé, chúng ta thường chỉ muốn mọi người phải làm mọi thứ như ý mình muốn. Nếu không, thì chúng ta sẽ không ngớt kêu gào, khóc lóc, đòi hỏi... Nhưng khi đã trưởng thành rồi, chúng ta nhận ra một chân lý khách quan rằng, bản thân mình không nên tìm cách thay đổi người khác hoặc thay đổi hoàn cảnh. Chỉ đòi hỏi người khác hoặc hoàn cảnh phải được như ý riêng của mình sẽ khiến bản thân chúng ta rơi vào bế tắc, phiền muộn. Đó là chưa nói, có ai ban cho chúng ta quyền được đứng trên người khác để đòi hỏi người khác phải thay đổi như ý mình muốn?

Cho nên, muốn người khác phải thay đổi cho vừa ý ta là một đòi hỏi cực kỳ vô lý. Chúng ta chỉ có thể thay đổi chính bản thân mình mà thôi, chứ không thể thay đổi người khác. Chỉ khi nào chúng ta cố gắng thay đổi mình trước, thì may ra người khác mới chịu thay đổi. Đừng bao giờ quên một sự thật hiển nhiên là, người ta chỉ thực sự thay đổi được khi chính bản thân họ muốn như vậy. Còn nếu lúc nào bạn cũng khăng khăng đòi hỏi người khác phải thay đổi trước, rồi bạn sẽ thay đổi sau, thì rất khó mà có một sự thay đổi nào xảy ra.

Và ngay cả khi chúng ta cố gắng thay đổi bản thân để sống tốt với người khác, thì người khác vẫn có thể đem lại nhiều đau khổ, những chuyện bất công, trái ý đến cho ta. Trong những trường hợp như vậy, phản ứng tự nhiên của chúng ta là muốn tìm cách trả đũa người khác, tìm cách gây ngược lại cho họ những gì họ đã gây ra cho mình. Tuy nhiên, nếu chúng ta nghĩ rằng, bất cứ việc gì xảy đến với ta trong cuộc sống hằng ngày đều có những ý nghĩa riêng của nó, thì chúng ta có thể có những suy nghĩ khác và hành động khác đi. Nếu chúng ta nghĩ rằng, những chuyện trái ý, bất công và đau khổ mà người khác mang đến cho ta chính là những thách thức dành cho khát vọng hướng thiện của ta, thì chúng ta sẽ bước đầu tỏ ra bình tĩnh hơn. Khi đó, chúng ta có thể có đủ tỉnh táo để tự hỏi mình rằng, nếu cuộc đời chỉ mang đến cho mình toàn những chuyện thuận lợi, dễ dàng, toàn những điều hợp ý mình, thì liệu mình có còn lý do để hướng thiện nữa hay không? Càng có nhiều thử thách, trở ngại trên con đường hướng thiện, thì bạn mới càng có cơ hội nung nấu quyết tâm vươn tới điều thiện nhiều hơn!

*

Cuộc sống có thể còn đầy dẫy những điều bất công, khiếm khuyết, nhưng chúng ta không nên vì vậy mà để cho tâm hồn mình cũng dính đầy bụi bặm. Tại sao chúng ta cứ bi quan về lòng người? Trong nhiều trường hợp, rất có thể là do lòng chúng ta chưa đủ cao cả để đón nhận người. Cũng như bạn, thiên hạ có rất nhiều khuyết điểm, lỗi lầm. Nếu lúc nào chúng ta cũng chỉ nhìn thấy những khuyết điểm, lỗi lầm của người khác thì ta rất khó có thái độ lạc quan trong cuộc sống.

Trái lại, khi biết nhìn vào cái tốt trong con người để bỏ qua những lỗi lầm của họ, khi biết nghĩ đến những điều lớn lao hơn, thì chẳng những ta bỏ qua những khuyết điểm nhỏ nhặt của người khác, mà ta còn có thể hướng đến những điều cao cả, tốt đẹp hơn trong cuộc sống.

Vẫn biết rằng, bỏ qua những lỗi lầm cho người khác là điều rất khó, nhưng khi ta tự đặt mình vào vị trí của người khác, với góc nhìn của người khác, chúng ta dễ cảm thông, tha thứ cho họ hơn. Trong cuộc sống, những người lạc quan luôn tỏ ra tôn trọng người khác, sống hòa đồng, thể hiện thái độ ứng xử của người trưởng thành. Họ biết con người còn có nhiều điều chưa tốt, nhưng không vì vậy mà mất niềm tin vào con người.

Con người ta sống trên đời, bên cạnh phần "con" còn có phần "người". Bên cạnh cái xấu còn có rất nhiều cái tốt, bên cạnh những điều tầm thường còn có nhiều điều cao cả. Muốn có thái độ lạc quan trong cuộc sống, chúng ta phải nhìn cả cái tốt lẫn những cái chưa tốt nơi mọi người mà chúng ta gặp gỡ hằng ngày. Hãy cố gắng sống hòa đồng, vui vẻ với mọi người, thì tự nhiên hạnh phúc sẽ đến với ta!

Và cũng chính vì trong mỗi con người chúng ta vẫn còn có nhiều điều chưa tốt, nên mới phải đặt ra vấn đề thay đổi và hoàn thiện bản thân. Thay vì lúc nào cũng tìm cách bới móc những khuyết điểm, lỗi lầm của người khác, chúng ta hãy biết ơn mọi người mà ta gặp trong cuộc sống, bất kể họ như thế nào! Đôi khi, nhờ nhìn thấy những hành động thấp hèn của người khác mà ta biết cách tránh không lặp lại những hành động đó. Đôi khi, nhờ nhìn thấy cuộc sống vô vị của người khác mà bản thân mình biết sống một cách có ý nghĩa hơn.

Hành trình của đời người đồng nghĩa với hành trình hoàn thiện bản thân. Chính bạn phải là người nỗ lực tạo nên sự thay đổi theo chiều hướng ngày càng tiến bộ hơn trong cuộc đời bạn. Đó là trách nhiệm không thể chối bỏ của mỗi người – nếu muốn tạo hạnh phúc cho bản thân và đồng loại. Khi chúng ta làm được nhiều việc thiện, tránh những việc ác, thì tự nhiên sẽ cảm thấy lòng mình thanh thản, lạc quan. Khi mỗi chúng ta cố gắng sống tốt thì cuộc sống xã hội cũng dần trở nên tốt đẹp hơn!
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14430)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20426)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17717)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15170)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 17010)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12906)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11795)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12443)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8460)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9261)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.