5. Mở Rộng Lòng

25/02/201116:59(Xem: 7290)
5. Mở Rộng Lòng

THỬ HÒA ĐIỆU SỐNG
Võ Đình Cường

MỞ RỘNG LÒNG

Ôi mịt mùng tăm tối bao nhiêu trong ngục thất mà em tự giam hãm! Mở rộng ra, mở ra cho sống yêu thương tràn ngập qua vạn hồn đơn côi, cho lạch tình giao thông cùng đại dương bác ái.

Anh ạ! Lòng em không hẹp, không xấu, thế mà mỗi lần tìm bạn để giao thân, em lại thấy khó khăn tưởng không thể nào gần họ được.

Cái tâm trạng ấy chẳng riêng gì ở em. Anh cũng đã nghe nhiều người nói với anh như thế. Ai cũng tự bảo rằng mình tốt, thế mà đôi bạn tri kỷ vẫn hiếm hoi.

Sao lại có sự mâu thuẫn ấy được? Tại sao trong lúc người nào cũng tốt, lại không thể kết bạn cùng nhau? Ở đây, đồng thanh sao lại không tương ứng? Và bởi đâu đồng khí lại chẳng tương cầu?

Vì lòng người thường e dè với nhau quá, không ai chịu mở lòng mình ra trước. Sự nghi nan đầu tiên, và cả sự kiêu ngạo nữa, đã khép lòng họ lại và chia biệt mỗi người ra mỗi xứ cô đơn. Cho nên, muốn được lòng người thì mở lòng mình ra trước đã, ai biết ý em muốn mời đoán mà dám đi vào? Trang trải lòng em mà mời đoán họ. Nếu có ai khinh khỉnh đi qua không thèm ghé lại, thì cũng tủi cho lòng em lắm đó. Nhưng nếu em kiêu ngạo đứng riêng ra, thì làm sao có bạn? Phải bớt lòng tự hào và kiêu ngạo đi, để được thêm nhiều mến yêu chứ! Tình yêu, với tự đại và kiêu ngạo có bao giờ đi đôi với nhau? Đầu em ngước cao thế kia thì làm sao thấy được bàn tay của kẻ khác đưa ra để giao nối ? Hạ mình xuống một chút em ơi, người ta đang đợi tay em để nắm lấy đấy. Chịu phiền hạ một chút chứ, có công cuộc nào tốt đẹp mà bắt đầu chẳng khó khăn.

Em không tìm ra được bạn, có khi tại em quá tính toán, so đo. Ôi so đo, tính toán mà chi, lợi quyền không đi đôi với tình bạn. Suy tính cho nhiều đi, rồi em sẽ suốt đời trơ trọi. Mới quen nhau đã sợ người ta lợi dụng, thì biết bao giờ mới được thân nhau? Đừng suy tính, nếu có bị lợi dụng, thì đấy cũng là một cách để được hiểu người. Dâng cả lòng ra, và cả quyền lợi nữa. Dại khờ đi cũng nên, dại khờ ở đây là một sự khôn ngoan mà ít người làm được, có khôn ngoan mới dư trí dại khờ. Những kẻ hiểu người nhiều nhất là những kẻ nhiều lần bị lợi dụng.

Nhưng tình bằng hữu là một sự gắn bó lâu dài, phải đâu là một cử chỉ đẹp đẽ như lòng từ thiện mà ta chỉ cần mở bàn tay và nhắm mắt lại?

Không đáng ngại, em ạ! Đã muốn đãi vàng, tấc phải hốt luôn cả cát sạn. Không thể lừa lọc được. Những phần tử xấu xa rồi sẽ đào thải đi dần, trong những sự kết hợp lâu bền, những phần tử hư hèn rồi sẽ mục nát. Em đừng sợ khi mở cửa, lòng em sẽ bị những kẻ dở dang xâm chiếm mãi mãi. Bụi có thể bám vào một hòn ngọc quí, nhưng chỉ một nhát chùi là sạch ngay. Có bao giờ ngọc với bụi có thể giao hoà ? Chỉ những vật cùng một giống mới kết hợp nhau lâu. Những người bạn xấu, nếu có xâm chiếm lòng em, thì chỉ trong một thời gian ngắn là đi ngay. Họ không thể ở được lâu, và lòng em, dầu sao, cũng không thể cầm được họ mãi. Mà cầm lại làm chi? Vì sợ miệng đời mai mỉa rằng em chẳng thuỷ chung, nhưng thuỷ chung phải đâu là một đức tính như người ta thường lầm tưởng? Thuỷ chung chỉ là kết quả sự giao hoà giữa hai tâm hồn quí báu. Nó chứng tỏ rằng có hai tấm lòng vàng đang giao kết ở đây và chỉ thế thôi, anh đã nói vàng không thể lẩn lộn với chì, thuỷ chung làm sao được với những kẻ xấu xa, thiếu điều kiện để chung sống? Khi đã thiếu tính tình tốt đẹp để xây đắp tình thân, thì dù có muốn thuỷ chung cũng chẳng được nào. Như hai bánh xe mòn không ăn khớp, họ sẽ xa dần nhau mà không một sức mạnh nào níu lại được.

Khi thời gian đã dự phần đào thải, thì em cần gì phải lựa lọc quá cho mất công, mà lựa làm sao cho đúng được, sao em dám chắc người ấy xấu, sau một vài lần gặp nhau. Có những người rất đáng ghét lúc mới gặp. Nhưng đó là do chúng ta nhận lầm nhiều hơn là họ đáng ghét thật. Càng sống gần nhau lâu, càng đi sâu vào tâm hồn họ, mới thấu rõ rằng những nhận xét ban đầu của chúng ta thường sai lạc, họ thường chẳng xấu như ta đã ngờ oan.

Như thế thì thái độ của người đi tìm bạn là đừng quá e dè, kiêu ngạo, cũng chớ tính toán và nhất là đừng vội nghi oan rằng mọi người đều xấu?

Phải đấy, em tóm tắt lại đúng lắm. Cử chỉ của người khát bạn phải giống như người khát nước lâu ngày, lăn xả ra trên bờ khe mà hớp nước, không quản ngại những cặp mắt tò mò chung quanh. Đừng sợ người ta cười cử chỉ bồng bột ấy. Mà ai lại đi cười cử chỉ của một người giàu lòng nhân ái? Nếu em quá vồn vả mà họ vẫn thờ ơ, thì người ta sẽ cười con người khô khan ấy chứ, anh nói thế thôi, chứ ai lại thản nhiên trước sự mến yêu.

Tâm hồn chúng ta bị hình hài phân chia, mỗi người mỗi cõi, nên khi có những sợi dây tình nào đưa ra để chấp nối hai hồn, ai lại chẳng vội nắm lấy để giao thân. Nếu đến nay còn có kẻ còn chịu phận lẻ loi là tại thiếu những dây thân ái của người khác trao cho.

Tung khắp bốn phương trời những sợi dây thân ái đi em! Cái cử chỉ đẹp đẽ ấy, bao nhiêu người đang ao ước, chờ mong, như những nụ hoa khát khao một tia nắng để nở, như kẻ sắp chết đuối đợi một chiếc sào… Đâu đây có những cặp môi mấp mấy, sắp mở một lời yêu, đâu đây có những cặp mắt sáng ướt, chất chứa tình thương, và những bàn tay run run chực cầm tay em đó. Sao em chẳng vội cầm cho, để những bàn tay kia phải bơ vơ rồi buông thỏng, để những cặp môi đáng lẽ được nở phải héo tàn, và những ánh mắt đang gợn sóng yêu thương, bỗng lại phẳng lì và lạnh ngắt như mặt nước mùa thu.

Chao ôi! Hai tâm hồn, hai sống yêu thương hoà hợp trong bể đời bão tố, có phải là một tội lỗi gì đâu mà ngại ngùng lắm thế.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2021(Xem: 11066)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12027)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12564)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11494)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11652)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12326)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 11834)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11453)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 9981)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/2020(Xem: 12855)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.