4. Số Phận hay Rủi May

25/02/201116:59(Xem: 7956)
4. Số Phận hay Rủi May

THỬ HÒA ĐIỆU SỐNG
Võ Đình Cường

SỐ PHẬN HAY RỦI MAY

Những cái đích, chúng ta đã qua hay sắp đến, chỉ có một công dụng là khuyến khích chúng ta đi. Chứ cái vui thật của cuộc đời, cũng như của kẻ du lịch khôn ngoan, là sự đi tới.

Kìa anh! Con nhện buông tơ, nhưng gió đưa nhẹ quá. Mạnh một chút nữa gió ơi, cho con nhện kia được bám vào một nhánh cây nào bên cạnh nó. Thôi gió đứng rồi, nhện sa thêm một đoạn nữa . . .

Gió lại lên. Bây giờ quá mạnh, nhện sa dần sa dần … không khéo sợi tơ mong manh thế kia sẽ đứt mất. Thôi xong, nó đứt thật!. Nhện rơi xuống đất rồi.

Anh ơi, đời của mỗi chúng ta không khác gì con nhện ấy, và ngọn gió kia là những may rủi của cuộc đời. Con nhện buông tơ, nó có biết đâu gió sẽ lành hay dữ, may thì gió lành giúp nó dệt thành lưới, không may thì gió dữ thổi đứt sợi tơ đầu. Ai biết được số phận mình? Đời người là một cuộc sổ số. Sự thành bại là do may rủi, phải thế không anh ?

Không em ạ, anh không tin có may rủi. Mọi vật xảy ra thế này hay thế khác đều có nguyên nhân. Chúng ta không biết rõ hết nguyên nhân ấy nên tưởng có may rủi đó thôi. Giữa mù mịt của không gian, trong đêm tối của thời gian, em chỉ thấy ngắn có một đời em mà chưa chắc đã thấy rõ hết hiện cảnh. Một chớp nhoáng trong đêm giông, một bóng nước trồi lên từ đáy hố thăm thẳm. Điều mà em gọi là số phận hay may rủi đó chẳng qua là sự kết hợp của bao nhiêu việc trước đã xảy ra mà em không thể nhớ biết hết được.

Cho nên thế gian không phải là một cuộc sổ số lớn. Bao nhiêu người đã đem đời mình ra đánh số, bởi họ tin chắc có những may rủi bất ngờ. Nhưng những may rủi ấy, chính họ đã tạo ra, chứ không phải tự trời cao, hay một nơi nào rơi xuống cả. Nếu mỗi người không mất đi một vài đồng bạc, sao có số độc đắc? Bao nhiêu cái rủi nhỏ của người thua tạo thành cái may lớn cho người được. Những thoáng buồn vụn vặt dính theo đồng bạc mất đi, tạo thành cái vui vô hạn chồng chất với bạc mà người trúng số thâu vào. Rủi may bắt đầu có khi người ta tin và tạo ra rủi may. Bao nhiêu người đã khoanh tay ngồi đợi một cái may không thể có được rồi tự than “đời ta chỉ gặp toàn rủi”.

Em ạ, đừng oán trời đất bất công, cũng đừng trách lòng người nham hiểm. Không ai phá hoại ta bằng ta. Bao nhiêu thất bại là tại ta một phần lớn, nếu không là tất cả. Đừng tìm nguyên nhân chính đâu khác ngoài những vụng về, lười nhác, dục vọng … của chính ta. Mỗi người là một kiến trúc sư tự xây dựng lấy đời mình. Số phận chỉ là kết quả của những hành động mình đã tạo ra trước.

Nếu không có số phận, tại sao hai người cùng làm một việc như nhau mà người này thành công mà người kia thất bại ?

Em hãy tìm với họ tất cả nguyên nhân rồi trong ấy, em sẽ thấy ít ra một nguyên nhân làm cho người này thành công mà người kia thất bại. Nhưng sao em cứ nhắc mãi đến sự thất bại và thành công? Thành công hay thất bại thật ra không đáng kể về phương diện giá trị tinh thần.

Đáng kể là sự cố gắng. Đấy mới thật là chân giá trị, nếu người ta thành công một cách quá dễ dàng thì sự thành công không giá trị mấy. Một giá trị thật phải cân xứng với công lao. Nếu không công lao mà muốn có giá trị, thì chẳng qua cái lốt chim Hoàng phủ lên mình con Quạ. Những cái lốt bề ngoài thật không đáng cho ta chú trọng đến.

Nhưng tại sao người đời thường để tâm đến? Sở dĩ người đời thường quá quan tâm đến sự thất bại và thành công cũng vì quá chú trọng đến dư luận. Sợ thất bại thường do lo sợ những lời chê bai. Chứ riêng nó không có gì đáng sợ cả. Không có sự thất bại nào là vô ích, mỗi bước xẩy chân là một lần kinh nghiệm, và nếu chúng ta biết gượng dậy, thì đấy cũng là những bước tiến lên.

Chân giá trị là ở những sự gượng dậy, những bước tiến lên ấy, chứ không phải là sự hoan hô khi chúng ta bước lên đài danh vọng.

Sự cố gắng là chân giá trị đã đành. Nó cũng là một mầm hạnh phúc nữa. Đời em, dù có dễ dàng bước từ thành công này đến thành công khác đi nữa, em cũng vẫn còn thấy thiếu thốn, cần phải tiến lên luôn. Nếu em dừng lại ở một chút nào đấy, em sẽ thấy sao phút rực rỡ của người chiến thắng, phủ dần quanh em những lớp tro tàn chán nản của sự dừng nghỉ. Màu sắc úa dần trên những tấm huy chương. Khúc khải hoàn vừa dứt, thì cô tịch lại nặng nề trở về trên gối kẻ chiến sĩ vừa thắng trận. Em thấy đấy, thành công chỉ đem lại cho ta cái vui chốc lát. Chính cố gắng mới đem lại sự bằng lòng vĩnh viễn. Những cái đích, chúng ta đã qua hay sắp đến, chỉ có một công dụng là khuyến khích chúng ta đi. Chứ cái vui thật của cuộc đời, cũng như của kẻ du lịch khôn ngoan là sự đi tới, sự tiến bộ. Em thử nhớ lại xem có phải nhiều khi chính những nơi em định đến chơi mà em tưởng sẽ vui lắm lại ít vui hơn khi đi giữa đường. Cho nên cái thuật của niềm hoan lạc là sự cố gắng đi tới, dù đi tới chậm hay mau, dù đi tới thành công hay thất bại. Nỗi sung sướng, cũng như bao nhiêu việc khác ở đời, chỉ có một giá trị tương đối với hoàn cảnh riêng của mỗi người. Người ăn mày được một đồng bạc vui sướng bằng người triệu phú được một cân vàng, em ạ! Không cần phải có tài sức ngang nhau, những sự thành công giống nhau mới có những vui sướng bằng nhau. Em đi sau một kẻ khác, những nỗi thích thú của em sẽ ngang hàng với nỗi thích thú của kẻ đi trước, nếu trên bước đường của em, em đã tiến được, với sự cố gắng của em, như người kia với sự cố gắng của họ.

Nhưng kìa em, con nhện ban nảy đã bò lên cây tự bao giờ, và dệt xong tấm lưới, trong lúc chúng ta đang bàn phiếm với nhau.

Em ạ! Nếu em biết loại bỏ những giờ than trách số phận, những phút oán thán cuộc đời, thì em đã dệt thêm được bao nhiêu tấm lưới cho đời em.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 20029)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17271)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14773)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16254)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12243)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11119)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11695)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7635)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8700)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8037)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.