6. Thư Gởi Mẹ

25/02/201110:43(Xem: 9167)
6. Thư Gởi Mẹ

SUỐI NGUỒN YÊU THƯƠNG
Tâm Chơn

THƯ GỞI MẸ

Mẹ kính yêu!

Đêm nay trời se lạnh. Gió thổi mơn man hiu hắt đượm buồn. Không gian tĩnh mịch. Bầu trời thưa ánh sao. Con lại thẫn thờ đếm từng bước chân côi, lòng thổn thức nhớ về dĩ vãng.

Mẹ ơi!

Nào phải chỉ ngày hôm nay con mới nắn nót nỗi niềm mà từ lâu rồi con đã giữ kín trong ký ức. Để đến bây giờ, phút chốc bỗng trỗi dậy trong con khi nhận ra mình mất mẹ. Lòng đắng cay trĩu nặng u buồn.

Mẹ biết không, có những đêm dài mình con đơn lẻ, nghe tiếng mưa thu rả rích mà nghẹn nỗi thương sầu. Lòng ngậm ngùi nhớ mẹ nước mắt rơi.

Mẹ ơi! Con xin cúi đầu lạy mẹ. Người đã cho con hình hài bằng niềm đau tột độ; đã nuôi lớn thể xác và tâm hồn con bằng dòng sữa bổ dưỡng ngọt ngào, lời ru êm dịu; đã tắm mát hồn con trong suối nguồn ấm áp yêu thương. Người đã cho con sự sống bằng máu và trái tim, đã lo lắng, hy sinh trọn đời vì con trẻ... Vậy mà... con đã vô tâm không nghe thấy. Đến khi con chợt hiểu ra thì mẹ đã không còn!

Mẹ ạ! Nhớ những lần con thủ thỉ nói lên mơ ước của mình, mẹ nhìn con lạ lẫm, bất ngờ. Con xin mẹ đi tu, mẹ phớt lờ cười gượng. Cũng phải thôi. Có người mẹ nào muốn con mình lớn lên làm “thầy chùa” đâu? Lại sống xa con mẹ càng không bao giờ chấp nhận. Mặc dù mẹ hiểu hết những khát vọng của con và dư biết tương lai con chọn là hướng đi thánh thiện. Nhưng vì quá thương con mà mẹ phải lắc đầu không ưng thuận.

Cho tới một hôm, con trốn nhà ra đi. Việc không thành... con quay trở lại. Lúc này con mới thật sự biết tình thâm mẫu tử thiêng liêng không dễ xa rời.

Con về sống bên mẹ, lòng vẫn nuôi hoài bão ban đầu. Mẹ đoán biết được nên giữ con “kỹ” hơn.

Vài tháng sau, con vào bộ đội. Thương con, mẹ tính đủ mọi cách để “hoãn binh”, còn con cứ một mực đòi đi cho tròn nghĩa vụ. Để rồi... đêm từng đêm nhớ mẹ nước mắt giàn giụa bờ mi.

Mẹ ạ! Những ngày tháng sống trong quân ngũ, con có dự tính của mình. Con nghĩ khi trở về sẽ xin mẹ xuất gia. Nếu mẹ không cho... con cũng cất bước. Lần này chắc chắn vậy.

Nhưng hỡi ôi! Nhiệm vụ chưa thành thì mẹ đã mất. Khung trời xưa đổ nát từ nay. Không có mẹ đời con hiu quạnh. Không có mẹ... căn nhà trống vắng lạnh lùng. Không có mẹ, ước mơ của con cũng lạc loài ý nghĩa.

Thưa mẹ! Dòng thời gian thầm lặng trôi mau, tâm nguyện của con nay đã đạt thành rồi. Con sung sướng lắm. Phải chi còn có mẹ, con sẽ dâng lên người niềm hạnh phúc này để mẹ con mình cùng chia sẻ nguồn vui. Và con cũng sẽ nói với mẹ rằng dù con có đi đâu, ở đâu mang hình thức nào con cũng nghĩ về mẹ, yêu thương mẹ.

Mẹ ơi! Bao năm qua sống nơi thiền tự, vui trong tình thầy bạn ấm êm; tất cả buồn vui, hoài vọng, ngậm ngùi một thuở đã đan nhau nằm im lìm trong kí ức mà hình bóng mẹ hiền vẫn nguyên vẹn trong tim con. Con nhớ mẹ buồn da diết lắm! Ôi! Một nỗi nhớ thương đong đầy hạnh phúc trong tâm hồn:

“Vì biết cuộc đời khổ với không,
Nên con gác lại mối thương lòng.
Hoằng dương chánh pháp đền ơn nặng,
Cúc dục sanh thành thỏa ước mong.”

Tháng 7-2001


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2021(Xem: 11066)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12026)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12564)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11494)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11652)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12326)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 11834)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11453)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 9981)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/2020(Xem: 12854)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.