18. Thái độ đối với tiền bạc

24/02/201109:04(Xem: 10360)
18. Thái độ đối với tiền bạc

VIẾT CHO CON GÁI
Lại Thế Luyện - Kim Phụng

Thái độ đối với tiền bạc

Ngày ... tháng ... năm ...
Con gái yêu của cha!
Hôm nay con đã lớn ba muốn nói với con về một đề tài quan trọng đó là thái độ của con đối với tiền bạc.
Phần lớn con người ta đều phải suốt một đời vất vả ngược xuôi, nên chuyện tiền nong là một vấn đề rất đang để chúng ta phải suy nghĩ. Bao nhiêu kiếp người bị những gánh nặng của cuộc sống đè gí, từ ngày này sang tháng nọ, từ năm này sang năm nọ, cho đến tận cuối cuộc đời. Thế thì, chúng ta phải có thái độ đối với vần đề tiền bạc ra sao đây?
Thiên hạ ai cũng quan tâm đến tiền bạc, nhưng không phải ai cũng hiểu được mặt trái của nó!
Nghiên cứu lịch sử tiền tệ, con biết rằng, ý nghĩa ban sơ của đồng tiền vốn chỉ là trung gian trong trao đổi, mua bán.
Nhưng khi xã hội ngày càng tiến lên, thì tiền bạc cũng đeo thêm những ý nghĩa mới – cả tích cực lẫn tiêu cực. Tiền bạc có thể giúp con người có được một cuộc sống sung túc về vật chất, nhưng nếu không khéo sử dụng, tiền bạc sẽ làm hủy hoại tâm hồn của con người!
°°°
Ngay từ nhỏ, cha đã không nuông chiều con. Cha phải làm như vậy để khi con lớn lên, con có đủ sức chịu đựng những gian khổ mà cuộc sống mang lại.
Tiền bạc quả là có một sức hút rất lớn. Những người từ nhỏ không quen chịu khổ, lớn lên, gặp hoàn cảnh có nhiều thử thách, họ rất dễ đánh mất chính mình. Họ sẵn sàng đưa tay nhận những đồng tiền mà lẽ ra họ không nên nhận.
Những sinh viên trẻ tuổi sớm bị ám ảnh bởi tiền bạc thì đầu óc lẫn tâm hồn họ sẽ khó mà mở ra để đón nhận được những ý tưởng hay cảm xúc tươi đẹp nào cả! Suốt ngày, lúc nào tâm trí họ cũng lởn vởn hình ảnh những đồng tiền. Họ không thể nào tiếp thu nổi những tri thức sâu sắc ở giảng đường hoặc những triết lý sâu xa nào khác của cuộc sống.
Rất nhiều người lao vào cuộc sống náo nhiệt, tranh đua, đến nỗi ngày càng rời xa những mục đích cao đẹp mà họ đã tự đặt ra cho bản thân từ hồi còn trẻ. Đến một ngày nào đó, họ chẳng thể nào còn nhận ra được hình ảnh của chính mình nữa!
°°°
Chiều hôm qua, con xin phép cha cho con đi làm thêm, dù trong gia đình mình, cha mẹ vẫn lo cho con không thiếu thứ gì.
Cha hoàn toàn đồng ý, dù rằng mẹ con hết sức ngăn cản!
Ở các nước phát triển, những bạn trẻ ở lứa tuổi như con hiện giờ vẫn đi làm thêm là một điều rất bình thường. Cha cho phép con đi làm thêm để con biết quý giá trị của đồng tiền, và nhất là, để con có dịp tiếp xúc với thực tế cuộc sống một chút. Sau này, khi con thực sự đi làm, con sẽ không quá bỡ ngỡ trước hoàn cảnh mới. Hôm nay, cha mẹ chỉ muốn dặn con rằng:
Hãy biết cẩn thận gìn giữ lấy mình. Đừng bao giờ chỉ vì tham lam tiền bạc, vụ lợi mà đánh mất đi chính mình!
Đừng bao giờ để tiền bạc chi phối mình, mà hãy điều khiển nó một cách khôn ngoan, theo mục đích cao đẹp của mình!
°°°
Nếu chúng ta có thái độ đúng đắn đối với tiền bạc, cuộc sống của chúng ta cũng sẽ dễ dàng trở nên thanh thản hơn! Ngược lại, nếu chúng ta có thái độ không đúng đắn đối với chúng, thì rất có thể chúng ta sẽ dễ dàng bị biến thành nô lệ mù quáng cho tiền bạc, mà hậu quả cuối cùng là ta phải sống một cuộc đời với những tháng ngày dài tất bật, bon chen... trôi qua vô nghĩa!

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14395)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20361)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17629)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15106)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16896)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12852)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11717)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12316)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8258)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9210)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.