07. Mình là cái gì?

17/02/201114:54(Xem: 9558)
07. Mình là cái gì?

NGUỒN AN LẠC
Hòa thượngThích Thanh Từ
Thường Chiếu,PL 2545 - TL 2001

07

MÌNH LÀ CÁI GÌ?
Giảng tại Thiền viện Trúc Lâm - 1997.

Hôm nay, đạo tràng Thái Tuệ về Thiền viện TrúcLâm cúng dường mùa an cư, quí thầy có ít lời nhắc nhở cho đạo tràng để quí vịtinh tấn tu hành.

Là người Phật tử, quívị vừa lo sinh sống cho gia đình, vừa lo tu hành, đồng thời giúp đỡ huynh đệchung quanh cùng biết tu, đó là duyên tốt. Vì vậy tôi sẽ nhắc nhở thêm cho quíPhật tử những điểm trọng yếu trong Phật pháp.

Ðức Phật Thích Ca khisinh ra đời, một tay chỉ trời một tay chỉ đất, nói câu: "Trên trời, dướitrời, chỉ có ta là hơn hết." Câu này quý thầy đã giảng rộng rồi, nhưng ởđây tôi nhấn mạnh lại trọng tâm. Người ta cứ nghĩ Phật nói thế là bản ngã hơnhết, nhưng sự thật không phải vậy. Với thâm ý của đạo Phật thì trên trời dướitrời chỉ có ta, tức con người là hơn hết.

Tại sao vậy? Vì trongvũ trụ, trời che đất chở nhưng trời đất vô tri, chỉ con người là có tri giác.Ðất chở đất nuôi chúng ta, nhưng đất có biết làm gì đâu, chỉ là hình tướng chechở giúp cho mình có sự sống. Còn trời là mây, mưa, mặt trời, mặt trăng, giúpcho ta đủ điều kiện sống trên thế gian này. Nên nói trời đất vô tri, chỉ có conngười tri giác, như vậy tri giác là trên tất cả. Vì thế con người là trọng tâmcủa trời đất, chớ không phải thường.

Lâu nay chúng ta aicũng như ai, hầu hết đều coi thường mình, chỉ kính trời trọng đất. Ðó là lỗilầm rất to. Sợ trời phạt, mong trời thương, cầu thổ địa ủng hộ chonhiều... tất cả những việc đó chỉ là phần phụ bên ngoài không đáng kể.Chính yếu là con người. Con người rất quan trọng đối với đạo Phật, nên đức PhậtThích Ca ra đời đã tuyên bố mục tiêu trọng yếu đó. Ngài ra đời là vì đề cao giátrị của con người. Ðó là trọng tâm, khác với các nhà khoa học hay triết học,luôn nghiên cứu tìm tòi bên ngoài, chinh phục vũ trụ mà quên xoay lại conngười, chinh phục chính bản thân mình.

Quí Phật tử kiểmnghiệm lại trong đời sống của mình, xét xem chúng ta nhớ mình nhiều hay nhớ bênngoài nhiều. Sáng thức dậy thì sao? Sửa soạn đi chợ hoặc đi làm công tác, luônluôn nhớ những việc bên ngoài, chớ không nhớ mình. Lo điều này điều kia, muasắm đủ thứ. Ngoài chợ có những món hàng mới lạ, nếu trong túi có tiền liền đimua sắm. Chúng ta ưa thích những gì mới lạ bên ngoài, ít khi nghĩ đến con ngườimình. Quí vị có khi nào nghĩ mình là cái gì không? Chắc không! Cứ hài lòng vớicon người như vầy, sự sống như vầy là đủ rồi. Thêm nữa là sự ăn mặc, nhà cửa,xe cộ, lo bấy nhiêu đó mà quên nghĩ mình là cái gì.

Mình là gì không biếtmà cái gì cũng lo cho mình. Sắm máy thu thanh, hỏi sắm cho ai, sắm cho mình.Mua chiếc nệm để làm gì? Ðể cho mình nằm. Cái gì cũng mình hết. Nhưng thử hỏimình là gì thì không biết! Ðó là điểm chính yếu mà tất cả chúng ta quên, chúngta lơ là.

Ðạo Phật không chophép người Phật tử như vậy mà chúng ta phải biết mình cho rành rẽ, tường tận.Vật bên ngoài chỉ phụ thuộc, nghĩa là biết được bao nhiêu hay bấy nhiêu, trọngyếu là phải biết mình, vì con người là trọng tâm của vũ trụ. Biết tất cả màkhông biết mình thì cái biết đó chưa thật biết. Tất cả tài sản mình được mà hỏimình là cái gì cũng không biết. Như vậy, tất cả cái được đó đều không giảiquyết tận cội gốc của con người. Sống mà không biết mình là gì thì cuộc sốnghết sức rỗng, vô giá trị. Nếu chúng ta chỉ lo ăn mặc cho sung sướng, nhà lầu xehơi, tức là chỉ lo thụ hưởng sung túc, mà mình là gì không biết thì ai hưởngthụ đây?

Ðó là vấn đề mà đứcPhật hay người tu hy sinh cả cuộc đời, phăng tìm cho ra manh mối để giải quyếtvề thân phận con người. Ngày nay chúng ta tu theo đạo Phật cần phải hiểu vấn đềđó, không thể xem thường. Cứ lo ăn lo mặc, lo sống để chờ tới ngày chết, cuốicùng là tan rã. Ví như chúng ta cất cái nhà thật đẹp nhưng biết mai mốt nó sẽtan nát thì còn quí nó không? Cái không bền, không lâu dài, chúng ta đâu cóquí. Vậy thì thân này không lâu dài, tại sao mình lại quí, đó là mê hay giác?Ðó là mê.

Vì vậy đạo Phật dạychúng ta phải giác, chớ không cho mê. Người mê thì không sáng suốt, không cótrí tuệ. Mà không sáng suốt, không trí tuệ thì sống như chết, không có giá trịgì hết! Ý nghĩa quan trọng là phải biết được mình thì cuộc sống mới có giá trị.Dù sống nghèo hay sống thiếu thốn vẫn có ý nghĩa như thường. Còn không biếtmình là gì thì cuộc sống hoàn toàn vô nghĩa.

Nhưng muốn biết mìnhlà gì phải làm sao? Chính điểm này tôi muốn hướng dẫn cho quí Phật tử ứng dụngtu tập để tìm lại xem mình là cái gì? Bao nhiêu người dù trí thức hay bình dânđều nghĩ mình luôn luôn hiện tiền, nhưng hỏi mình là gì thì không trả lời được.Như vậy, cái hiện tiền đó cũng chỉ là ảo tưởng thôi. Chúng ta phải tìm ra lẽthật mình là gì chớ không thể tưởng tượng được. Chúng ta tu không phải tìm cáigì xa xôi ở bên ngoài mà phải xoay lại soi sáng chính mình để tìm xem mình làgì? Cái gì là thật mình? Nếu tìm ra được cái thật mình là ngộ đạo. Ðừng tưởngngộ đạo là chạy lên non, lên núi, lên mây, lên trời, mà ngộ đạo là tìm ra đượccái thật mình. Tìm được cái thật mình rồi thì ngang đó giải quyết xong dòngsinh tử. Không tìm ra được cái thật mình thì luôn luôn sống trong dao động,biến chuyển. Mà dao động biến chuyển là tướng sinh diệt vô thường. Nếu chấp giữtất cả hình tướng tâm niệm vô thường là mình thì mình là một dòng biến chuyển.Chuyển biến nơi này tới nơi kia không dừng, Phật gọi đó là luân hồi. Ðã luânhồi thì chỉ có giải thoát luân hồi mới là vui.

Tôi thường nói thânnày không phải thiệt mình. Nhưng ai cũng bám vào nó, cũng nghĩ nó là mình. Nếuthân này thật mình thì nó nguyên vẹn, nhưng nếu ở trong da thịt chúng ta chỗnào bị ung nhọt thì có mủ hôi hám. Mủ hôi hám đó là mình chăng? Ðã từ da thịtmình loại ra thì nó đâu phải mình. Nếu là mình thì chúng ta phải mến nó chứ,ngược lại mình rất gớm nó. Như nước bọt ở trong miệng có phải là mình không?Nếu là mình thì khi nhổ ra rồi, mình lấy lại được; nhưng chúng ta có làm nhưvậy không? Kể cả máu huyết là thiết yếu của sự sống, nhưng chúng ta chích rachừng một chung máu, rồi bảo uống lại có dám uống không? Nếu thật mình thì đâunỡ bỏ; đằng này buông ra rồi, chúng ta gớm nó thì làm sao nói mình được. Nếuthân này là mình thì khi thiếu máu, mua máu của người khác đem vô, máu ngườikhác thì đâu phải của mình, nhưng khi đem vô rồi lại nói máu mình. Lạ chưa! Từbản thân mình loại ra thì chúng ta gớm, còn của người khác đem vào thì nhận làmình. Thật vô lý! Cho nên từ đó mới thấy rõ ràng thân này không thật là mình.

Trong kinh, đức Phậtkể lại: Có một người đi sang làng khác, giữa đường gặp sa mạc. Trời tối, ôngthấy cái chòi cũ không có người ở, nên vào nghỉ tạm qua đêm. Ðang nằm, có tiếngđộng bên ngoài, ông trỗi dậy nghe ngóng. Bỗng cánh cửa bị xô vô, thì ra một conquỷ to tướng đang vác cái thây người chết liệng xuống đất. Ông hoảng sợ quáđứng nép sau vách. Bỗng có con quỷ thứ hai chạy vào, dành ăn với con quỷ thứnhất. Ðứa này nói cái thây của tao, đứa kia nói cái thây của tao, hai đứa giànhnhau rồi cãi lộn.

Lúc đó chúng chợt thấyông đứng bên vách. Con quỷ thứ nhất nói từ đầu tới cuối có ông này làm chứng,nếu ông nói của đứa nào thì đứa đó ăn. Nghe vậy ông run quá, nếu nói của thằngnày thì thằng kia bẻ cổ mình, nhưng thôi kệ thà chết chớ không nói dối. Nên ôngbảo: "Khi nãy tôi thấy rõ ràng anh A đem cái thây vô quăng ở đây."Thằng kia tức giận quá liền giựt ông một cánh tay. Con quỷ thứ nhất thấy vậythương, bèn xé cánh tay của thây chết ráp vào cho ông. Vừa ráp xong thì con quỷthứ hai giựt cánh tay còn lại quăng ra. Con quỷ đầu xé cánh tay thứ hai củathây chết gắn vào. Rồi tới chân phải, chân trái. Hễ con quỷ này xé quăng ra thìcon kia lấy chân của thây chết gắn vào. Cuối cùng mệt quá hai con quỷ ngưngcãi, chúng chia hai chân, hai tay của ông bị vứt ra và ăn.

Ông ta hoảng hốt tựhỏi mình là cái gì? Rõ ràng tay chân hiện giờ là của thây chết. Ông mới đi tìmgặp những vị sáng suốt để hỏi xem ông bây giờ là gì. Gặp được một vị A La Hán,đảnh lễ xong, ông thưa:

- Bạch Ngài, con bịhai con quỷ đem tay chân của thây chết ráp vào cho con, bây giờ cái gì là con?

Vị A La Hán nói:

- Tốt lắm! Như vậy làông sắp ngộ đạo.

Câu chuyện tới đó hết.Quí vị thấy nếu vật tạm bợ hư giả mà chúng ta biết thắc mắc, tìm tòi, không tinnó thật, thì đó là sáng suốt, thấy được lẽ thật. Cuộc đời này có ai thấy đượclẽ thật không, có ai thắc mắc mình là gì không? Hay cứ hài lòng. Ðã hài lòngrồi thì tìm mọi thứ cho nó thụ hưởng, chờ đến ngày bại hoại. Ðó là nỗi đau đớncủa con người trong kiếp mê lầm. Chúng ta phải ý thức mình là gì, tìm cho racái mình đó chính là gốc của sự tu. Người biết quay lại tìm mình là người sắpthấy đạo.

Vì vậy tôi hướng dẫnTăng Ni ở các Thiền viện cũng như Phật tử trong các đạo tràng khi tụng kinh thìđặt nặng kinh Bát Nhã. Trong kinh Bát Nhã câu đầu: "Quán Tự Tại Bồ-táthành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhấtthiết khổ ách." Chỉ cần soi lại thân năm uẩn này không thật thì tất cả khổnạn qua hết. Quí vị có soi lại không? Nhiều khi đọc thì đọc mà không chịu soilại. Cần phải soi lại thân năm uẩn này xem nó có thật hay không. Nếu thấy rõràng nó không thật thì tất cả khổ ách đều qua. Ðiều này hết sức cụ thể.

Thường chúng ta thấythân này, vọng tưởng này là ta, nên những gì cung cấp cho thân này được khỏe,được sung túc mà người khác đoạt đi thì ta tức giận lên. Ta nghĩ việc gì đúngmà ai nói khác thì nổi giận. Như vậy khổ là do chấp thân, chấp tâm mà ra. Nếubiết thân này không thật, ý nghĩ không thật thì đâu còn chấp, đâu còn giận ai,nhờ thế mọi khổ ách đều qua hết. Người ta chửi, mình cười chơi thôi. Có gì thậtmà phải khổ, phải giận, dành hơn, dành thua. Anh không thật, tôi không thật,cái chửi cũng không thật luôn nên chỉ cười vui thôi.

Ngược lại, nếu thấythật thì động tới xác thịt liền đau tức, động tới ý kiến trái mình liền sângiận. Rõ ràng do chấp thân, chấp tâm mà mình khổ. Vì vậy kinh Bát Nhã nhắc chochúng ta soi thấy năm uẩn là không thì qua hết thảy khổ nạn. Việc tu hết sứcgiản đơn, không phải cầu Phật hay cầu ai làm cho mình hết khổ, chỉ cần thấy rõnăm uẩn không thật là hết khổ.

Năm uẩn có sắc, thuộcvề vật chất; thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm; cả hai đều không thật. Biếtrõ như vậy thì khổ nạn nào cũng qua hết, chớ không phải Phật hay Bồ-tát, thầnthánh nào cho mình hết khổ nạn. Hết khổ nạn là do trí tuệ của chúng ta soi thấythân năm uẩn không thật. Kinh dạy một câu thôi chúng ta tu cả đời. Tu là phảisoi lại chớ không phải phóng ra. Nhưng hiện nay đa số người tu cầu xin nhiềuhơn soi lại.

Xét hai phần vật chấtvà tinh thần: Sắc là sắc chất tức thể xác không thật. Thọ, tưởng, hành, thứctức tinh thần cũng không thật. Thấy rõ như vậy là giác? Mê giác cách nhau chẳngbao xa. Thấy thân thật, cái suy gẫm thật là mê. Thấy thân không thật, cái suygẫm không thật là giác.

Trong kinh Viên Giáccó vị Bồ-tát thưa hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn, thếnào là vô minh?

Phật đáp:

- Chấp thân tứ đạiduyên hợp là thật của mình, chấp tâm suy nghĩ lăng xăng là tâm thật của mình làvô minh.

Hết vô minh là giác.Như vậy mê giác như trở bàn tay thôi, gần một bên mà mình tu hoài không được,tại sao? Tại vì mê chấp thấm sâu lâu đời quá rồi. Ngày nay đọc kinh Phật, nghequý thầy giảng chỉ mới lóe lên chút thôi, chưa hẳn là thấy nó không thật. Chỉkhi nào ngồi lại thấy thân không thật, tâm không thật, tất cả đều do duyên hợptạm bợ, thấy rõ như vậy thì mọi khổ nạn qua hết.

Ðược vậy sống ở đâycũng giống như Cực Lạc, có gì buồn, có gì khổ. Chúng ta cũng ăn, cũnguống như mọi người, nhưng không chê khen buồn giận, không mê lầm chấp thân tâmlà được. Muốn thế thì phải soi lại mình, không thể phóng ra ngoài nữa. Quí Phậttử cứ phóng ra, không biết quay lại, nên đi chùa hai chục năm vẫn không hếtphiền não.

Bây giờ trở lại vấn đềtu tập, chúng ta ngồi thiền để làm gì? Ðể nhìn lại mình. Bởi vì chúng ta hướngra thì mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm vị, gióthổi xúc chạm... tiếp xúc các trần. Lúc đó dù chúng ta có tu vẫn bị ảnh hưởngbên ngoài nhiều. Chỉ khi ngồi yên, mắt nhìn xuống, gác hết năm trần bên ngoài,không cho nó lôi cuốn nữa. Nên giờ ngồi thiền là giờ ngồi để soi lại. Soi thếnào?

Phương tiện ban đầu,chúng ta dùng hơi thở hít vô thở ra đếm một, hít vô thở ra đếm hai, ... nhưchơi vậy. Nhưng nhờ nhớ hơi thở ra hơi thở vô, hơi thở thì ở trong nên chúng tamới phản quan. Thấy hơi thở vô, hơi thở ra đều đặn như vậy, nếu thở ra mà khônghít vô thì chết. Rõ ràng thân tạm bợ phải không? Vừa khởi nghĩ việc gì liềnbuông, mình tự nhắc vọng tưởng hư dối không thật. Thân này do tứ đại hợp thành.Hơi thở là gốc, thở ra không hít vào là chết nên sự sống rất mỏng manh. Ðã mỏngmanh lại cộng thêm cái tâm chợt có, chợt không là vọng tưởng hư dối. Tập soisáng lại mình như vậy, gọi là tỉnh giác.

Ngài Ðạo Nguyên ở NhậtBản nói: "Một giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật." Tại sao? Giờ ngồithiền là giờ giác, còn giờ ở ngoài là giờ mê. Trong một ngày, quí Phật tử có đủthứ chuyện. Thấy chuyện này, nghe chuyện kia toàn là phóng ra ngoài, chớ khôngquay lại. Còn giờ ngồi thiền là giờ quay lại mình. Theo hơi thở, thấy vọngtưởng, buông; đó là nhìn lại mình, tỉnh giác rõ ràng, không bị mê lầm. Lúc tỉnhgiác đó không phải là Phật là gì? Phật là giác. Chúng ta đang giác nên chúng talà Phật.

Sở dĩ ngồi thiền ngủgục bị đánh là sao? Bởi vì trọng tâm là phải giác. Chúng ta ngồi ngủ mê nênđánh cho tỉnh, không để mê nữa. Hiểu vậy mới biết tại sao nhà thiền khắt khe.Vì sợ mình mê theo cảnh, hoặc si mê không biết gì nên phải làm cho mình tỉnh,tỉnh đó là giác. Ðược vậy một giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật, chớ ngồi ngủkhò khò thì làm Phật sao được.

Chúng ta phải hiểu rõý nghĩa quán hơi thở. Nhiều khi chúng ta thực tập mà không hiểu nên nắm khôngvững, tu như vậy sẽ không đi tới đâu. Hơi thở vô ra xem như chuyện tầm thường,nhưng nhờ nhớ hơi thở mà chúng ta quay lại. Nếu không nhớ hơi thở thì tâm mìnhchạy rong. Tu là phải quay lại soi sáng chính mình. Nhờ theo dõi hơi thở vô ra,lúc thở khì mà không hít lại là chết. Chỉ có mấy giây đồng hồ thôi, mới biếtnhư vậy sự sống không bền, không thật. Bao nhiêu đó đủ để chúng ta chứng nghiệmđược cuộc sống này.

Ðến vọng tưởng, niệmnày nhảy ra niệm kia nhảy vô, chúng ta buông, nó mất; để thấy tâm này cũngkhông thật. Thấy thân không thật, thấy tâm cũng không thật, không phải tỉnhgiác là gì? Nên giờ ngồi thiền là giờ tỉnh giác, giờ ngồi thiền là giờ tối quantrọng, chứ không phải tầm thường. Khi tỉnh giác được rồi, chúng ta mới thấy rõđược mình. Thấy thân này không thật, tâm này không thật thì mọi cố chấp theo đórã tan. Chấp đã không còn thì khổ đau theo đó hết. Ðây mới chỉ là chặng số mộtthôi.

Tôi xin hỏi những vịtu hơi lâu một chút, khi ngồi thiền chừng năm ba phút, trong tâm không nghĩ nhớgì hết, lúc đó chúng ta có biết không? Dạ có biết. Như vậy, có mình hay khôngcó mình? Có mình.

Nếu cái nghĩ là mìnhthì khi không nghĩ là không có mình. Không nghĩ mà có mình thì cái nghĩ khôngphải là mình rồi. Bấy nhiêu đó đủ chứng minh cái suy nghĩ không phải là mình,vì nó chợt có chợt không. Những thứ lăng xăng lặng hết thì tri giác hằng hữu.Ðó là mình rồi, thực tế đâu có xa. Như vậy, cái mình chân thật đó không phải làcái suy nghĩ. Nghĩ suy là sinh diệt tạm bợ, không phải chân thật. Còn khôngnghĩ mà hằng biết, có tiếng động liền nghe, hình ảnh đến liền thấy, gió chạmthì mát v.v... yên tĩnh sáng suốt không nghĩ ngợi gì hết, đó chính thật làmình.

Thường những gì độnglà vô thường sinh diệt. Thân động cho nên thân vô thường sanh diệt, tâm độngnên tâm vô thường sinh diệt. Chấp thân vô thường sinh diệt là thân mình, chấptâm vô thường sinh diệt là tâm mình, đó là sai lầm. Nếu buông hai thứ chấp đó,chỉ nhận cái không động, không sinh diệt, không có tướng trạng vô thường, hằngyên tĩnh sáng suốt đó, thì làm gì bị dẫn đi trong luân hồi.

Có tu rồi, chúng ta sẽthấy nó rõ ràng, không còn nghi ngờ gì hết. Sống được với những phút giây chânthật, ta mới thấy khi suy nghĩ dứt bặt thì chân thật hiện tiền, chớ không phảikhông có. Chúng ta không nhận ra nó là vì mình cứ suy nghĩ hoài, hết chuyện nàytới chuyện kia, mãi chạy theo những suy nghĩ thì làm sao biết rằng khi khôngsuy nghĩ, lại có cái chân thật. Vì vậy nói thiền dễ định. Ðịnh là dừng hếtnhững suy nghĩ. Dừng hết suy nghĩ thì cái chân thật hiện tiền. Nhận ra cái đóthì tỉnh thì giác, gọi là giác ngộ. Tức thấy được lẽ thật của thân tâm, giảbiết giả, thật biết thật. Ðó là kiến tánh, là thấy đạo. Ðơn giản vậy thôi.

Trong nhà Phật dạythân, miệng, ý tạo tác các nghiệp, mà chủ yếu là ý. Ý nghĩ tốt, miệng nói tốt,thân làm tốt. Ý nghĩ xấu, miệng nói xấu, thân làm xấu. Ý là chủ tạo nghiệp. Ýnghĩ này lặng đi thì còn cái gì tạo nghiệp. Nghiệp là gốc dẫn chúng ta đi trongluân hồi sinh tử. Nếu hết nghiệp thì cái gì dẫn chúng ta nữa, như vậy khônggiải thoát là gì?

Cho nên giác ngộ đượcthân vô thường, tâm sinh diệt, thì cái chân thật hiện tiền không sinh, khôngdiệt. Sống được với cái chân thật này thì không còn tạo nghiệp đi trong luânhồi sanh tử nữa. Như vậy rõ ràng tu là để giải thoát sanh tử.

Mục đích của chúng tatu không gì khác hơn trọng tâm của đức Phật dạy "xoay lại con người".Vì con người là tối thượng. Dù có bay được trên hư không (bây giờ chúng ta đimáy bay phản lực), hay cất nhà lầu chín chục tầng v.v... đều là vô thường, naycòn mai mất. Chỉ có trở lại tâm chân thật không hình không tướng của mình, làkhông vô thường; hằng giác không động nên không sinh diệt. Ðó mới là chân thật.Ðược vậy chúng ta sẽ tin lời Phật dạy không hư dối.

Hôm nay tôi nhắc tấtcả quí Phật tử hiểu được căn bản của việc tu hành. Vậy từ đây về sau huynh đệhòa hợp với nhau, với tư cách cư sĩ vừa lo đời, vừa lo đạo. Lo đó chính là locho mình. Ðể ngày mai quí vị có nhắm mắt, dù chưa hết niệm sinh diệt thì cũngsinh diệt trong cảnh tốt. Bằng như được hết sinh diệt thì thảnh thơi tự tại,còn gì quí hơn!

Mong quí Phật tử nỗlực tinh tấn tu hành.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/07/2025(Xem: 3002)
Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: Khi tính người tịch diệt, thì tính trời hiển lộ. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
16/07/2025(Xem: 3362)
Hầu hết các loài trên hành tinh này đều thiếu khả năng trí tuệ để xây dựng hệ thống niềm tin. Ví dụ, mèo và chó không nghĩ về ý nghĩa cuộc sống của chúng và có xu hướng sống hạnh phúc miễn là chúng nhận được những gì chúng cần ngay tại thời điểm hiện tại. Điều này khiến Loài Người Thông Tuệ (Homo sapiens) trở thành loài duy nhất trên Trái đất có khả năng tham gia vào các quá trình tư duy phức tạp và tạo ra các hệ thống tôn giáo và triết học. Do đó, việc có tôn giáo là một đặc điểm riêng của con người mà không có ở bất kỳ loài vật nào khác.
16/07/2025(Xem: 4596)
Trong bốn năm qua, tôi đã viết 17 bài luận về Phật giáo tại Nhật Bản cho trang Buddhistdoor Global. Trong những bài luận này, tôi đã khám phá rất nhiều hoạt động và tín ngưỡng ở Nhật Bản, ở nhiều mức độ khác nhau, có liên quan đến các truyền thống Phật giáo. Những bài luận này có thể gợi lên một hình ảnh, mà tôi nghĩ là khá chính xác, rằng tôn giáo vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ ở Nhật Bản, mặc dù dưới vỏ bọc của một xã hội ở thế kỷ 21.
12/07/2025(Xem: 8923)
Mùa hè năm nay tôi được mời dự lễ Vu Lan ở chùa Quán Âm, Kansas City, tiểu bang Missouri. Khi đến nơi tôi thấy trên bàn của phòng có quyển sách The Art of Living. Ngoài những thời gian thăm viếng các chùa như Phổ Hiền, Pháp Hoa, ...và một vài nơi ở thành phố Kansas như Country Plaza cùng Limestone Kansas City, và thăm một số nhà Phật tử, thời gian còn lại tôi đã dịch ngay chương đầu của quyển sách này (12/08/2011), ngay trong thời gian ở chùa Quán Âm. Sau ba ngày ở Kansas City tôi chia tay với thành phố này và anh Quảng Tịnh Đạt, hội trưởng chùa Quán Âm đã tặng tôi quyển sách này. Thế là tôi mang theo và dịch luôn trọn quyển sách.
12/07/2025(Xem: 7898)
“Nghệ thuật sống hạnh phúc trong thế giới phiền não” được bác sĩ Howard C. Cutter tổng hợp và viết lại từ những lời dạy của đức Dalai Lama tại nhiều bối cảnh thuyết giảng khác nhau. Tác phẩm được trình bày theo một hệ thống gồm bốn phần, ba phần đầu là một tác phẩm độc lập mang cùng tựa đề tác phẩm này và phần 4 cũng là một tác phẩm bỏ túi độc lập, vì có cùng nội dung nên được gộp vào phần cuối của tác phẩm, để độc giả có thể thưởng thức hai tác phẩm trong một của đức Đạt Lai Lạt Ma.
12/07/2025(Xem: 8520)
ĐẠO PHẬT ĐÃ HƯỚNG ĐẠO con đường phát triển của Đức Đạt Lai Lạt Ma – cả nội tại lẫn ngoại tại – và vẫn là một sự hướng dẫn cho cội nguồn thích đáng của nhân loại. Những bài diễn thuyết bao hàm trong sự sưu tập này không đối diện trực tiếp với mục tiêu Giác Ngộ hay Quả Phật. Đúng hơn, chúng soi sáng những chủ đề phổ thông về từ bi; bất bạo động và hòa bình; chủ nghĩa thế tục; một thân thể, tâm thức, cá nhân, và xã hội lành mạnh; và tiềm năng của con người cho hạnh phúc qua sự thực chứng nội tại. Loài người trên thế giới hiện hữu đã sẵn sàng để tiếp nhận tuệ giác xuất phát từ Phật giáo và về Phật giáo vốn trực tiếp che chở chúng ta khỏi khổ đau của chúng ta.
12/07/2025(Xem: 8901)
Nguyên bản: Advice on Dying and Living a Better Life Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
12/07/2025(Xem: 8079)
Tại sao con người tìm đến tôn giáo? Bởi vì con người cần những ý tưởng cực lạc, thiên đàng, hay niết bàn. Tại sao con người cần những ý tưởng cực lạc, thiên đàng, và niết bàn?
12/07/2025(Xem: 8479)
Đức Đạt Lai Lạt Ma thường nói rằng có lẻ nhân loại là một gia đình loài người duy nhất trong vũ trụ này, và trái đất là ngôi nhà duy nhất của loài người chúng ta. Trong thực tế, chúng ta thấy khi một con chó, mèo hay bất cứ một con thú nào sắp chết thì tất cả những con bò chét, con ve vội vả chạy ra khỏi con thú ấy đề tìm thân thể một con thú khác để sinh sống, còn con người chúng ta nếu trái đất này có mệnh hệ gì thì chúng ta sẽ chạy đi chốn nào. Người ta nói rằng số lượng vũ khí hạt nhân hiện có trên thế giới có thể phá hủy cả chục trái đất mà chúng ta đang ở. Người ta cũng nói rằng hơn nửa tài nguyên thiên nhiên hay có thể là hai phần ba tài nguyên thiên nhiên là đang dùng vào việc chế tạo vũ khí.
10/07/2025(Xem: 6236)
SỐNG TỐT ĐẸP HƠN Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Sưu tập: Renuka Singh Chuyển ngữ: Tuệ Uyển