Yêu người không yêu

16/02/201105:11(Xem: 13164)
Yêu người không yêu

SAN SẺ YÊU THƯƠNG
Thái Hồng Minh

Yêu người không yêu

Nếu như lòng yêu thương luôn giúp tâm hồn ta rộng mở, thì sự oán ghét hay thù hận luôn biến ta thành kẻ hẹp hòi, ích kỷ. Nhưng cho dù đó là một sự thật không ai phủ nhận, thì việc mở lòng ra để yêu thương tất cả mọi người quả thật không dễ dàng. Cứ cho là ta có thể sẵn lòng yêu thương tất cả những người mà ta có dịp tiếp xúc, quen biết, nhưng làm thế nào để có thể yêu thương được ngay cả những người không yêu thương ta, hoặc những người mà ta đang mang lòng thù hận, oán ghét?

Sự thật là, có một khuynh hướng vô lý mà hầu hết chúng ta đều mắc phải: Chúng ta thường không hiểu được lý do thực sự dẫn đến sự thù hận hay oán ghét của mình! Bạn có thể chống chế điều này, biện minh bằng cách đưa ra hàng loạt những lý do, những nguyên nhân dẫn đến sự hiềm khích của bạn đối với ai đó... Nhưng nếu bạn bình tâm suy nghĩ lại, phân tích vấn đề một cách khách quan, có thể là chính bạn cũng sẽ ngạc nhiên vì những nguyên nhân bạn đưa ra chưa bao giờ thực sự đầy đủ. Bạn có thể hỏi, vì sao tôi biết được điều đó? Bởi vì chính sự nuôi dưỡng lòng oán hận của bạn là biểu hiện cho thấy bạn chưa hề thấu hiểu nguyên nhân đích thực của vấn đề.

Khi có một sự mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh trong quan hệ giữa hai người, thường thì chúng ta nghĩ rằng mình có thể nói ngay được nguyên nhân. Đó có thể là một sự bất đồng ý kiến, hay một hành vi gây tổn thương, thiệt hại... Tuy nhiên, những gì mà chúng ta nhìn thấy được và nêu ra đó lại không phải là nguyên nhân thực sự. Bởi vì chúng ta chỉ ghét giận người khác thông qua cách biểu hiện những hành vi, ngôn ngữ của họ, chứ không phải là vì chính những hành vi, ngôn ngữ đó! Mặt khác, sự giận ghét của chúng ta là một cảm nhận hoàn toàn chủ quan phụ thuộc vào tâm trạng ta lúc đó.

Trong một chừng mực nào đó, chính ý thức chấp ngã, sự bảo vệ “cái tôi”, đã ngăn cản chúng ta mở rộng nhận thức để nhìn toàn bộ sự việc một cách khách quan và trung thực. Sự nhận thức của ta luôn xoay quanh ý niệm bảo vệ chính mình, chống lại mọi sự xúc phạm, phê phán, bất chấp những nhận xét, phê phán của người khác là đúng hay sai. Vì thế, sự chủ quan của ta rất ít khi đúng đắn.

Khi một người bất đồng ý kiến với chúng ta, nhưng nếu biết khéo léo bày tỏ ý kiến bất đồng đó một cách ôn hòa kèm theo sự tôn trọng cần thiết, chắc chắn sẽ không thể làm cho ta ghét giận. Nhưng đa số mọi người thường không làm như vậy. Khi đưa ra một ý kiến bất đồng, họ thường có khuynh hướng kèm theo đó một thái độ đối kháng, thậm chí còn là bác bỏ, phủ nhận người khác. Điều đó tạo một phản ứng tiêu cực trong sự tiếp thu của người đối diện. Và chính đây mới là nguyên nhân dẫn đến sự mâu thuẫn, hiềm khích giữa đôi bên.

Ngay cả khi ai đó đã có hành vi gây ra sự tổn thương, thiệt hại cho bạn, nhưng nếu cách làm của họ cho thấy là họ đã không cố ý như vậy, hoặc có một sự hối tiếc chân thành, điều đó cũng thường không đáng để tạo ra sự mâu thuẫn, hiềm khích.

Vì thế, khi có một trường hợp mâu thuẫn nảy sinh thì có đến chín phần mười nguyên nhân thực sự nằm về phía bản thân chúng ta, và chỉ có một phần mười còn lại nằm về phía đối phương. Bởi vì sự giận ghét của ta là do nơi nhận thức chủ quan về đối tượng chứ không phải do nơi bản thân những hành vi, ngôn ngữ của người ấy. Như vậy, chính ta mới là người có khả năng kiểm soát và quyết định việc mâu thuẫn ấy có tồn tại và phát triển trong ta hay không. Ngay cả khi đối phương vẫn muốn đơn phương giữ lấy sự hiềm khích, thì sự buông xả của chúng ta bao giờ cũng có tác dụng hóa giải dần dần sự hiềm khích ấy.

Điều không may là hầu hết chúng ta không nhận biết như vậy, và luôn có khuynh hướng hành xử theo với thái độ của người đang nắm giữ chỉ có một phần mười khả năng kiểm soát sự việc! Và rồi chúng ta đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác... nhưng chẳng bao giờ nhận ra rằng phần quyết định luôn ở nơi chính mình.

Tính chất thụ động này biểu hiện rõ nét ở điểm là ta luôn phụ thuộc vào đối phương. Nếu đó là một người “biết điều”, xử xự một cách khéo léo, ta sẽ dễ dàng vui vẻ bỏ qua mọi việc, và sự mâu thuẫn sẽ bị dập tắt ngay từ đầu. Ngược lại, nếu gặp phải một người thô lỗ, thiếu tôn trọng, ta sẽ luôn có thái độ đối nghịch và có khuynh hướng làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn, khiến cho mâu thuẫn tất yếu phải nảy sinh và phát triển. Điều này cho thấy là thật ra ta chẳng hề tự quyết được thái độ của mình, mà luôn hành xử theo cách phụ thuộc vào thái độ của người khác.

Nếu nhận hiểu được vấn đề, chúng ta sẽ có thể sẵn lòng làm một người “biết điều” để chủ động hóa giải sự việc, thay vì chờ đợi một thái độ ứng xử tốt đẹp từ người khác. Quyền kiểm soát thái độ của bản thân mình luôn nằm ở chính ta. Vì thế, nếu chúng ta thực sự không muốn cho mâu thuẫn phát sinh thì đối phương cũng không thể thay đổi được điều đó.

Những nguyên nhân gây ra sự oán ghét, thù hận của chúng ta đối với ai đó luôn nằm về phía ta nhiều hơn là người đó. Nếu ta thấy một người nào đó là “đáng ghét”, thì đó là sự nhận xét hoàn toàn chủ quan của ta, và vì thế ta hoàn toàn có khả năng thay đổi được nhận xét ấy. Nếu hiểu được như vậy, bạn sẽ thấy không còn có ai là người đáng ghét cả, bởi vì ghét một người bao giờ cũng có hại cho ta, trong khi yêu thương một người luôn mở rộng thêm khả năng đón nhận niềm vui vào cuộc sống.

 




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/07/2021(Xem: 10286)
- Kính thưa chư Tôn đức, chư Thiện hữu & quí vị hảo tâm. Vào ngày Thứ Bảy (June 12) vừa qua, được sự cho phép của chính quyền địa phương làng Durgagar và Armoba Village Bihar India, nhóm Từ thiện Bodhgaya Heart chúng con, chúng tôi đã tiếp tục hành trình cứu trợ thực phẩm cho dân nghèo mùa Dịch covid. Xin mời chư vị xem qua một vài hình ảnh tường trình.. Buổi phát quà cứu trợ cho 358 căn hộ tại 2 ngôi làng cách Bồ đề Đạo Tràng chừng 9 cây số.
03/07/2021(Xem: 12300)
Kính lễ đạo sư và đấng bảo hộ của chúng con, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát! Sự thông tuệ của ngài chiếu soi như mặt trời, không bị che mờ bởi vọng tưởng hay dấu vết của si mê, Ngài giữ trong tim một bộ kinh biểu tượng của việc thấy tất cả mọi thứ như chúng là, Người dạy trong sáu mươi cách, với lòng từ bi yêu thương của một từ thân với đứa con duy nhất, Đến tất cả các tạo vật bị giam trong tù ngục của luân hồi, Bối rối trong bóng tối của si mê, tràn ngập bởi khổ đau của họ.
03/07/2021(Xem: 25994)
Vào thời đại khủng hoảng niềm tin của tất cả tôn giáo, lòng người càng lúc hồi hộp bất an, giáo lý đức Thích Ca Mâu Ni như mặt trời chiều xuống bóng hoàng hôn ,Mật Tông Kim Cang Thừa như ngọn đèn sắp tắt, chỉ còn lại những bộ đại tạng kinh phủ đầy bụi trên những kệ kinh, nằm bất tỉnh không ai hỏi thăm trong những tu viên,viện bảo tàng cô đơn thiếu bóng người. Cuốn sách Mật Tông Kim Cang Thừa Chú Giải Toàn Thư Tập Hai, là sự trình bày và phô diễn mật nghĩa thậm thâm của Đại Phật Đảnh Lăng Nghiêm đà la ni , Bát Đại Kim Cang Thần Kinh và các phụ bản vô thượng du già. Là sự trợ duyên cho những ai, đã có gieo hạt giống pháp môn này, có thể khai hoa kết trái thành tựu sự tu tập giải thoát. Linh Quang từ nhỏ xuất gia tu học , tầm sư học đạo, và đi du học nhiều nước, nên trong đầu nhiều ngôn ngữ lộn qua lộn lại, bây giờ Tiếng Việt cũng quên dần,chính tả viết sai nhiều lắm, nên quý vị thông cảm bỏ qua những lỗi lầm về câu văn từ ngữ.
01/07/2021(Xem: 10036)
Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, đã được chính Đức Thế Tôn tuyên dương là Bổn Kinh Thượng Thừa, bao gồm những bí yếu cực kỳ nhiệm mầu, vi diệu mà Chư Phật trao truyền lại cho những ai đủ tín tâm thọ nhận. Pháp-bảo được lưu truyền đến nay, vẫn sáng ngời toả rạng lưu ly qua bao thăng trầm của thế sự vô thường, với tâm nguyện hoằng truyền Chánh Pháp của các bậc minh sư, tuỳ căn cơ chúng sanh mỗi thời mà soạn dịch. Một, trong những bổn kinh Diệu Pháp Liên Hoa thường được trì tụng tại các tự viện là bổn cố đại lão Hoà Thượng Thích Trí Tịnh biên soạn, hoàn tất với 557 trang, gồm 7 quyển, chia thành 28 phẩm , mỗi phẩm đầy đủ văn kinh và thi kệ. Cũng do nhu cầu và phương tiện tu học của Phật tử mà Hoà Thượng Thích Trí Quảng cũng đã lược soạn Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thành Bổn Môn Pháp Hoa Kinh để Phật tử tại các Đạo Tràng Pháp Hoa có thể hàng ngày trì tụng mà không bị gián đoạn vì không đủ thời gian. Bổn Môn Pháp Hoa Kinh được Hoà Thượng trân trọng biên soạn, cô đ
29/06/2021(Xem: 17517)
Kính Pháp Sư Sướng Hoài, tôi tu sĩ Thích Thắng Hoan đọc qua tác phẩm PHẬT HỌC VĂN TẬP của ngài viết nhận thấy ngài một nhà bác học uyên thâm Phật giáo nắm vững mọi tư tưởng cao siêu của cácphái, các tông giáo cả trong đạo lẫn ngoài đời. Toàn bộ tác phẩm của ngài đều xây dựng vững chắc trên lãnh vực biện chứng pháp của Nhân Minh Luận. Nội dung tác phẩm trong đó, mỗi một chủ đề ngài biện chứng bằng những lãnh vực mặt phải mặt trái, chiều sâu chiều cạn, mặt phủ định, mặt xác định,cuối cùng để làm sáng tỏ vấn đề bằng kết luận. Tôi vô cùng kính nể kiến thức của ngài.
29/06/2021(Xem: 16752)
Phật giáo dùng từ bi làm căn bản, xem trọng giới sát nên thực hành phóngs anh.Từ nghĩa là trao cho khoái lạc; Bi nghĩa là san bằng khổ não. Người đời rất quý mến thân mạng, chồng vợ con cháu, tiền của, nhưng từ chối mỗi người không thể che chở bao gồm chung cả. Giả như nếu bất hạnh gặp gian nguy, vì cứu thân mình, thà bỏ tất cả vật ngoài thân, để cầu được sinh tồn riêng mình.Con người đã tham sống sợ chết, sanh mạng con vật nhỏ bé như con muỗi, con ve, sâu bọ, kiến mối, còn biết tránh chạy cái chết cầu mong được sống, thì các động vật khác chúng nó sao lại không như thế?
28/06/2021(Xem: 9740)
Trước khi nói đến tinh thần Trung đạo của Phật giáo, thiết nghĩ cần phân biệt sự khác nhau giữa tinh thần “Trung dung” và “Trung đạo.” “Trung dung” là những thiên trong Kinh Lễ. Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra Mục đích của sách Trung Dung là giúp con người hiểu được đạo “Trung dung” để đạt đến một trình độ đạo đức cao hơn. Khổng Tử nói về đạo "trung dung", tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử. Cũng theo tinh thần “Trung dung” như thế, không thể có một thái độ “Trung dung” cố định; tùy thời tùy thế mà linh hoạt. “Trung dung” với ý nghĩa trên là dung hợp, quân bình giữa thái quá và bất cập. Ví dụ : thuyết Duy Vật chủ trương tranh đấu; thuyết Duy Tâm của Đức Khổng Tử, chủ trương điều hòa hai yếu tố cực đoan bằng lẽ Trung Dung.
27/06/2021(Xem: 16966)
Pháp Học và Pháp Hành Khi đề cập đến những người tu trong Phật Giáo, thì chúng ta thấy có phân ra hai khuynh hướng tu học, một số vị thì nghiêng về pháp học, còn số vị khác lại chuyên về pháp hành. Vậy pháp học là gì ? Là cả đời tu chỉ chuyên về việc nghiên cứu, học tập kinh điển, xem các luận bản... để biết được hết Tam tạng kinh điển ( Kinh, Luật, Luận ), nhiều vị còn phiên dịch kinh điển, hay viết ra nhiều bộ luận dựa trên kiến thức, sự hiểu biết đã tích lũy. Nhưng tâm thật sự chứng ngộ, hay đạt đạo thì có thể chưa, chỉ hiểu, chứ chưa thực chứng. ( Còn số vị mà chuyên về pháp học nhưng tâm đã giác ngộ thì rất hiếm có, thời nay càng vô cùng hiếm ).
27/06/2021(Xem: 11889)
- Kính thưa chư Tôn đức, chư Pháp hữu & quí vị hảo tâm. Với tâm niệm hộ trì chư Tôn đức Tăng già, các bậc tu hành nơi đất Phật trong lúc nhiều khó khăn do Dịch covid đang nhiễu nhương, chúng con, chúng tôi đã thực hiện hai buổi cúng dường tịnh tài, tịnh vật và một ít nhu yếu phẩm đến chư Tăng Ni thuộc truyền thống Phật giáo Kim Cương Thừa Tibet tại Dharamsala, các vị Ẩn sỹ trên đỉnh Triund Himachal, cũng như các vị Tăng Ni VN hiện đang theo học PG Mật Tông tại Dharamsala India (19 vị). Sư cô Thích nữ Huệ Thảo đã thừa hành Phật sự này và đã cúng dường tất cả là 245 vị tu sỹ, trong đó có 19 vị tránh tiếp xúc đám đông nên đã nhận chuyển vào tài khoản cá nhân từ Sư cô Huệ Thảo, một số vị vì bịnh trạng đã nhờ bạn đồng tu nhận dùm, mỗi vị thọ nhận 1500INR kèm với một số tịnh vật cúng dường.
26/06/2021(Xem: 32818)
LỜI GIỚI THIỆU “Chết đi về đâu” là tuyển tập các bài pháp thoại của thầy Nhật Từ tại Hoa Kỳ, Úc châu và Việt Nam. Dựa vào kinh điển Phật giáo thuộc các truyền thống khác nhau, thầy Nhật Từ đã phân tích những trở ngại về tâm lí trước cái chết thường làm cho cái chết diễn ra sớm hơn và đau đớn hơn. Nếu chết được hiểu là tiến trình tự nhiên mà mỗi hữu thể đều phải trải qua thì nỗi sợ hãi về cái chết sẽ trở thành nỗi ám ảnh, trước nhất là từ hữu thức sau đó là từ vô thức, làm cho cuộc sống con người trở nên tẻ nhạt và đáng sợ.