Yêu người không yêu

16/02/201105:11(Xem: 7676)
Yêu người không yêu

SAN SẺ YÊU THƯƠNG
Thái Hồng Minh

Yêu người không yêu

Nếu như lòng yêu thương luôn giúp tâm hồn ta rộng mở, thì sự oán ghét hay thù hận luôn biến ta thành kẻ hẹp hòi, ích kỷ. Nhưng cho dù đó là một sự thật không ai phủ nhận, thì việc mở lòng ra để yêu thương tất cả mọi người quả thật không dễ dàng. Cứ cho là ta có thể sẵn lòng yêu thương tất cả những người mà ta có dịp tiếp xúc, quen biết, nhưng làm thế nào để có thể yêu thương được ngay cả những người không yêu thương ta, hoặc những người mà ta đang mang lòng thù hận, oán ghét?

Sự thật là, có một khuynh hướng vô lý mà hầu hết chúng ta đều mắc phải: Chúng ta thường không hiểu được lý do thực sự dẫn đến sự thù hận hay oán ghét của mình! Bạn có thể chống chế điều này, biện minh bằng cách đưa ra hàng loạt những lý do, những nguyên nhân dẫn đến sự hiềm khích của bạn đối với ai đó... Nhưng nếu bạn bình tâm suy nghĩ lại, phân tích vấn đề một cách khách quan, có thể là chính bạn cũng sẽ ngạc nhiên vì những nguyên nhân bạn đưa ra chưa bao giờ thực sự đầy đủ. Bạn có thể hỏi, vì sao tôi biết được điều đó? Bởi vì chính sự nuôi dưỡng lòng oán hận của bạn là biểu hiện cho thấy bạn chưa hề thấu hiểu nguyên nhân đích thực của vấn đề.

Khi có một sự mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh trong quan hệ giữa hai người, thường thì chúng ta nghĩ rằng mình có thể nói ngay được nguyên nhân. Đó có thể là một sự bất đồng ý kiến, hay một hành vi gây tổn thương, thiệt hại... Tuy nhiên, những gì mà chúng ta nhìn thấy được và nêu ra đó lại không phải là nguyên nhân thực sự. Bởi vì chúng ta chỉ ghét giận người khác thông qua cách biểu hiện những hành vi, ngôn ngữ của họ, chứ không phải là vì chính những hành vi, ngôn ngữ đó! Mặt khác, sự giận ghét của chúng ta là một cảm nhận hoàn toàn chủ quan phụ thuộc vào tâm trạng ta lúc đó.

Trong một chừng mực nào đó, chính ý thức chấp ngã, sự bảo vệ “cái tôi”, đã ngăn cản chúng ta mở rộng nhận thức để nhìn toàn bộ sự việc một cách khách quan và trung thực. Sự nhận thức của ta luôn xoay quanh ý niệm bảo vệ chính mình, chống lại mọi sự xúc phạm, phê phán, bất chấp những nhận xét, phê phán của người khác là đúng hay sai. Vì thế, sự chủ quan của ta rất ít khi đúng đắn.

Khi một người bất đồng ý kiến với chúng ta, nhưng nếu biết khéo léo bày tỏ ý kiến bất đồng đó một cách ôn hòa kèm theo sự tôn trọng cần thiết, chắc chắn sẽ không thể làm cho ta ghét giận. Nhưng đa số mọi người thường không làm như vậy. Khi đưa ra một ý kiến bất đồng, họ thường có khuynh hướng kèm theo đó một thái độ đối kháng, thậm chí còn là bác bỏ, phủ nhận người khác. Điều đó tạo một phản ứng tiêu cực trong sự tiếp thu của người đối diện. Và chính đây mới là nguyên nhân dẫn đến sự mâu thuẫn, hiềm khích giữa đôi bên.

Ngay cả khi ai đó đã có hành vi gây ra sự tổn thương, thiệt hại cho bạn, nhưng nếu cách làm của họ cho thấy là họ đã không cố ý như vậy, hoặc có một sự hối tiếc chân thành, điều đó cũng thường không đáng để tạo ra sự mâu thuẫn, hiềm khích.

Vì thế, khi có một trường hợp mâu thuẫn nảy sinh thì có đến chín phần mười nguyên nhân thực sự nằm về phía bản thân chúng ta, và chỉ có một phần mười còn lại nằm về phía đối phương. Bởi vì sự giận ghét của ta là do nơi nhận thức chủ quan về đối tượng chứ không phải do nơi bản thân những hành vi, ngôn ngữ của người ấy. Như vậy, chính ta mới là người có khả năng kiểm soát và quyết định việc mâu thuẫn ấy có tồn tại và phát triển trong ta hay không. Ngay cả khi đối phương vẫn muốn đơn phương giữ lấy sự hiềm khích, thì sự buông xả của chúng ta bao giờ cũng có tác dụng hóa giải dần dần sự hiềm khích ấy.

Điều không may là hầu hết chúng ta không nhận biết như vậy, và luôn có khuynh hướng hành xử theo với thái độ của người đang nắm giữ chỉ có một phần mười khả năng kiểm soát sự việc! Và rồi chúng ta đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác... nhưng chẳng bao giờ nhận ra rằng phần quyết định luôn ở nơi chính mình.

Tính chất thụ động này biểu hiện rõ nét ở điểm là ta luôn phụ thuộc vào đối phương. Nếu đó là một người “biết điều”, xử xự một cách khéo léo, ta sẽ dễ dàng vui vẻ bỏ qua mọi việc, và sự mâu thuẫn sẽ bị dập tắt ngay từ đầu. Ngược lại, nếu gặp phải một người thô lỗ, thiếu tôn trọng, ta sẽ luôn có thái độ đối nghịch và có khuynh hướng làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn, khiến cho mâu thuẫn tất yếu phải nảy sinh và phát triển. Điều này cho thấy là thật ra ta chẳng hề tự quyết được thái độ của mình, mà luôn hành xử theo cách phụ thuộc vào thái độ của người khác.

Nếu nhận hiểu được vấn đề, chúng ta sẽ có thể sẵn lòng làm một người “biết điều” để chủ động hóa giải sự việc, thay vì chờ đợi một thái độ ứng xử tốt đẹp từ người khác. Quyền kiểm soát thái độ của bản thân mình luôn nằm ở chính ta. Vì thế, nếu chúng ta thực sự không muốn cho mâu thuẫn phát sinh thì đối phương cũng không thể thay đổi được điều đó.

Những nguyên nhân gây ra sự oán ghét, thù hận của chúng ta đối với ai đó luôn nằm về phía ta nhiều hơn là người đó. Nếu ta thấy một người nào đó là “đáng ghét”, thì đó là sự nhận xét hoàn toàn chủ quan của ta, và vì thế ta hoàn toàn có khả năng thay đổi được nhận xét ấy. Nếu hiểu được như vậy, bạn sẽ thấy không còn có ai là người đáng ghét cả, bởi vì ghét một người bao giờ cũng có hại cho ta, trong khi yêu thương một người luôn mở rộng thêm khả năng đón nhận niềm vui vào cuộc sống.

 




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2015(Xem: 15576)
Tôi năm nay 24 tuổi, công việc ổn định và yêu một anh bạn đồng nghiệp, hai chúng tôi dự định ba tháng nữa sẽ làm lễ cưới (lễ hằng thuận) ở chùa. Vừa rồi, tôi đưa anh ấy ra Bắc, nơi chùa chị tôi xuất gia tu học để làm lễ quy y cho anh. Quy y xong, anh được nhà chùa cho tụng kinh, khi tụng xong thì chuyện bất ngờ xảy ra, chồng sắp cưới của tôi xin phép thầy xuất gia. Sự việc xảy ra quá nhanh khiến tôi hết sức bất ngờ, buồn vui lẫn lộn. Nếu anh ấy xuất gia được thì hủy lễ cưới luôn. Thầy bảo sẽ trợ duyên cho anh ấy ở chùa tập sự một năm mới được xuống tóc và gửi đi học. Bây giờ, ngoài việc niệm Bồ-tát Quan Thế Âm ra, tôi chẳng biết làm gì nữa.
31/03/2015(Xem: 15843)
Giới luật và Phẩm Hạnh Huynh Trưởng
31/03/2015(Xem: 28625)
Dianne Perry, (sau này được biết đến qua pháp danh Tây Tạng của cô là Tenzin Palmo) là một vị ni cô người Anh đầu tiên, đã ẩn cư thiền định suốt 12 năm trong một hang động cao 12.300 bộ trên dãy Hy Mã Lạp Sơn, cách ngăn khỏi thế giới trần tục bởi những rặng núi phủ đầy tuyết trắng quanh năm. Tenzin Palmo đã sống một mình và tu tập trong động tuyết này. Cô đã chạm trán với những thú rừng hoang dã, đã vượt qua những cơn lạnh khủng khiếp, những cái đói giết người, và những trận bão tuyết kinh hồn; cô tự trồng lấy thực phẩm và ngủ ngồi trong cái hộp gỗ rộng cỡ 3 bộ vuông (theo truyền thống Tây Tạng, các vị tu sĩ đều tọa thiền trong một cái hộp gỗ như vậy). Cô không bao giò ngủ nằm. Mục đích của Tenzin Palmo là chứng đạo trong hình tướng một người nữ.
29/03/2015(Xem: 30348)
Giảng về diệu lý Bát Nhã của Bộ Kinh Kim Cang là pháp môn bình đẳng. Chúng ta phần đông đều không hiểu cho nên đầu lại thêm đầu, tướng lại thủ tướng đem cái pháp bình đẳng biến thành không bình đẳng.
28/03/2015(Xem: 12679)
Thuyết pháp là hạnh cao quý của người hoằng pháp vì họ là sứ giả của Như Lai, mang ánh sáng của chánh pháp rải đều khắp nhân gian khiến cho muôn người được hưởng cam lồ vị - sống hạnh phúc, chết bình an, hưởng an lạc ở nhàn cảnh, hay giải thoát, niết bàn. Hiện nay, sinh hoạt thuyết pháp phát triển sôi nổi ở nhiều nơi trong nước và hải ngoại.
26/03/2015(Xem: 11858)
Từ khi lộ ánh trăng thiền Tri ân sâu nặng cơ duyên cuộc đời Vô ngôn sáng giữa muôn lời Dấn thân thế sự, chẳng rời Tánh Không. ---
23/03/2015(Xem: 15817)
Từ xa xưa đã có hiện tượng cư sĩ tham gia tu tập Thiền, Tịnh Độ và học tập nghiên cứu Phật Học; nhưng thời cổ đại, việc cư sĩ tại gia học Phật là hành vi tự phát riêng lẻ, không có tổ chức đoàn thể đại chúng cùng tu tập. Trong quá trình lịch sử phát triển của Phật giáo Trung Quốc, các cư sĩ có vai trò rất tích cực trong việc học và hoằng dương đạo Phật, trải qua nhiều thời đại đã xuất hiện không ít những vị cư sĩ có cống hiến lớn lao với đạo. Đến thời nhà Thanh, do mạng mạch truyền thừa bị gián đoạn do đó khiến Phật Giáo suy yếu. Sau đó có cư sĩ Dương Nhân San phát tâm gánh vác, vận động lập ra hình thức đoàn thể cư sĩ để phục hưng Phật giáo. Tiến hành các hoạt động kết tập, in ấn, phát hành kinh điển, mở trường lớp, nghiên cứu Phật giáo, bồi dưỡng nhân tài, cải cách hưng long Phật giáo, đó chính là thời kỳ đầu phát triển của Cư sĩ Phật giáo.
20/03/2015(Xem: 15258)
Nhà sư Alan Piercey là một tu sĩ Phật giáo làm việc tại bệnh viện ở Burnie và cũng từng tham gia bán chocolate để gây quỹ. Đối với những cư dân ở bờ biển Tây bắc Burnie (Tasmania, Úc), thầy được biết đến với nhiều tên gọi, nhưng cái tên phổ biến nhất được lấy từ một bộ phim hoạt hình nổi tiếng. “Pháp danh tôi là Shih Jingang” (phát âm là Cher Gin Gun) - thầy nói. “Thế nhưng hầu hết mọi người sống quanh bệnh viện khu vực Tây bắc tại Burnie này gọi tôi là Sifu (sư phụ).
19/03/2015(Xem: 12431)
Đây không phải là lần đầu tiên tôi được Thọ Bát, được làm “Ni Cô chải tóc bên dòng suối“ một ngày một đêm đâu các bạn ạ! Từ bao năm nay hễ chùa Linh Thứu có lên lịch trình Thọ Bát là có mặt tôi, cho dù ngày ấy tuyết phủ ngập chùa, hay mưa dầm giăng lối. Nhưng chẳng bao giờ tôi tu trọn vẹn được đầy đủ 24 giờ tinh khôi cả, cứ buổi cháo chiều vừa dùng xong tôi đã tìm đường ra xe về nhà để sáng mai lên chùa sớm cho kịp buổi công phu khuya. Hay nhiều khi không thể tham dự được tôi cũng cố lên chùa nghe cho được bài Pháp mới thật hả dạ. Tất cả cũng chỉ vì Gia Duyên còn ràng buộc như câu các Thầy truyền giới vẫn thường đọc trong những buổi Thọ Bát Quan Trai, nên sự thể mới như vậy mà thôi.
19/03/2015(Xem: 11215)
Những Nguyên Nhân Của Hành Động Nầy các Tỳ Kheo, có ba nguyên nhân bắt nguồn của hành động. Ba nguyên nhân nầy là ba nguyên nhân gì? Đó là: lòng tham lam, lòng thù hận, và sự si mê (tham, sân, si). [32] Một hành động khi làm với lòng tham lam, sinh ra từ lòng tham lam, gây ra bởi lòng tham lam, phát sinh ra từ lòng tham lam, sẽ chín muồi bất cứ nơi nào người nầy tái sinh; và bất cứ khi nào hành động chín muồi, người nầy nhận lấy kết quả của hành động, ở trong đời nầy, hoặc là trong đời sau, hoặc là trong những đời kế tiếp sau đó. [33]