08. Nhập dòng giải thoát

07/02/201109:32(Xem: 16896)
08. Nhập dòng giải thoát

THƯƠNGYÊU LÀ THÔNG CẢM
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tôn Giáo TL. 2005 - PL. 2549
-08-

Nhậpdòng giải thoát

Trongkinh điển thường đề cập đến bốn quả vị mà ngườicon Phật phải nhắm đến trên đường giải thoát, đưa đếnNiết Bàn. Các quả vị nầy được xem như là các dấu mốc- hoặc các chặng đường - trên hành trình thanh lọc tâm ý,tiêu diệt các ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm, thường đượcgọi là mười kiết sử hay thằng thúc (samyojana), tróibuộc chúng sinh vào vòng luân hồi.

Bốnquả vị đó là:

-Dự lưu (Sotāpanna, Tu-đà-hoàn),
-Nhất lai (Sakadāgāmi, Tư-đà-hàm),
-Bất lai (Anāgāmi, A-na-hàm),
-A-la-hán (Arahat, Ứng cúng).
Mườikiết sử là:
-thân kiến (sakkāya-ditthi),
-hoài nghi (vicikicchā),
-giới cấm thủ (silabata-parāmāsa)
-tham đắm vào cõi dục (kāma-rāga)
-sân hận (vyāpāda),
-tham đắm vào cõi sắc (rūpa-rāga),
-tham đắm vào cõi vô sắc (arūpa-rāga),
-mạn (māna),
-trạo cử vi tế (uddhacca),
-si vi tế (avijjā).
Trongnhiều bài kinh, Đức Phật thường tóm tắt về bốn quảthánh đó như sau:

"...Có những Tỳ-khưu là những vị A-la-hán, các lậu hoặc đãđoạn trừ, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm,gánh nặng đã đặt xuống, mục đích đã thành đạt, hữukiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánhtrí.

Cónhững Tỳ-khưu là những vị Bất lai, đã đoạn trừ nămhạ phần kiết sử, được hóa sanh, ở đấy được nhậpNiết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa.

Cónhững Tỳ-khưu là những vị Nhất lai, đã đoạn trừ ba kiếtsử, đã làm cho muội lược tham, sân, si, sau khi sanh vào đờinày một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau.

Cónhững Tỳ-khưu là những vị Dự lưu, đã đoạn trừ ba kiếtsử, không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giácngộ". - (Trung bộ, 118)

*

Ngườiđạt quả Dự lưulà người đã đoạn trừ ba kiếtsử đầu tiên: thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ. Ngườinầy được xem như là một người đã nhập vào dòng giảithoát, tùy theo hạnh nghiệp và tinh tấn mà chỉ tái sinh làmngười hoặc trong các cõi trời, tối đa là bảy kiếp, vìvậy có sách gọi là quả Thất lai. Người nầy còn đượcgọi là đã mở "Pháp nhãn", vì người ấy đã bắt đầucó thanh tịnh về quan kiến, đã trực nhận rõ ràng ChánhPháp của Ðức Phật. Người đó không còn xem mình như làmột bản thể riêng biệt và thường tồn, kể cả hình sắcvà tâm thức. Người đó không còn một chút nghi ngờ nàovề sự hiện hữu và lợi ích của Tam Bảo: không còn hoàinghi về sự giác ngộ của Ðức Phật, không còn hoài nghivề con đường mà Ðức Phật đã vạch ra để đi đến giácngộ, không còn hoài nghi về những đệ tử của Ngài đãđi theo con đường ấy và đã đạt được sự giải thoáttối hậu. Người ấy cũng không còn có ảo tưởng rằng NiếtBàn có thể đạt được bằng cách ép mình vào các hình thứclễ nghi phiến diện hay các điều lệ ước định nào đó.

Thânkiến, kiết sử đầu tiên, là sự hiểu sai lạc về cái gọilà Tự ngã, hay cái Tôi, đồng hóa nó với một trong năm uẩn(sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Trong bài kinh số 44, thuộcTrung Bộ, Ni sư Dhammadina giảng rằng một người đã đoạntrừ thân kiến là một người "không xem sắc là tự ngã,không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc là trong tự ngã,không xem tự ngã là trong sắc", tương tự như thế đốivới bốn uẩn còn lại.

Cóngười thường hiểu lầm về chữ "hoài nghi" dùng ở đây.Tiếng Pāli là "vicikicchā", thường dùng để chỉ tháiđộ nghi ngờ về Phật Pháp Tăng và về lý Duyên sinh. NgàiPhật Âm (Buddhaghosa), trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo,nói rằng vicikicchācòn là một thái độ do dự, khôngnhất quyết, không sẵn sàng tra vấn, học hỏi. Do đó cầnphải đoạn trừ kiết sử nầy. Ðức Phật khuyến khích chúngta phải biết nỗ lực suy tư, luận giải và chứng nghiệmngay trong đời sống hằng ngày, vì Pháp là "mời mọi ngườiđến xem xét" (ehipassika). Ðể rồi chúng ta thấy, biếtrõ ràng sự ích lợi của Phật Pháp cho con đường hành trìcủa ta, và từ đó, có một niềm tin vững chắc vào Tam Bảo,không còn thắc mắc, phân vân, hay do dự gì nữa.

Chữ"giới cấm thủ" cũng thường bị hiểu lầm. Ở đây đểchỉ thái độ mê tín mù quáng, bám thủ vào các hình thứclễ nghi, tin rằng làm như thế là đủ để thanh lọc tâm.Đoạn trừ giới cấm thủ không có nghĩa là một thái độbuông lơi, phóng túng, dễ duôi, không giữ gìn giới hạnh.Trái lại, nó có nghĩa là một thái độ minh triết, xem giớiluật như là một phương tiện tốt, cần thiết để luyệntâm, nhưng lại không mù quáng, không quá lệ thuộc vào cáchình thức giáo điều. Một người không còn giới cấm thủlà một người lúc nào cũng có giới đức trong sạch, nhưngsống thảnh thơi trong giới luật đạo hạnh, không còn xemđó là một gánh nặng trên con đường hành trì của mình.

Đểtrừ khử các kiết sử trên, Đức Phật khuyên chúng ta phảinỗ lực thực hành bốn điều: (1) thân cận bậc chân nhân,(2) lắng nghe diệu pháp, (3) như lý tác ý, và (4) thực hànhpháp và tùy pháp, như đã ghi trong Tương Ưng 55.11:

"Thâncận bậc Chân nhân là Dự lưu phần.
Nghediệu pháp là Dự lưu phần.

Nhưlý tác ý là Dự lưu phần.

Thựchành pháp và tùy pháp là Dự lưu phần".
RồiNgài giảng về sự liên quan của bốn pháp trên:

-"Này các Tỳ-khưu, giao thiệp với bậc Chân nhân được viênmãn thời làm viên mãn nghe diệu pháp; nghe diệu pháp đượcviên mãn thời làm viên mãn lòng tin; lòng tin được viên mãn,thời làm viên mãn như lý tác ý; như lý tác ý được viênmãn, thời làm viên mãn chánh niệm tỉnh giác; chánh niệmtỉnh giác được viên mãn, thời làm viên mãn các căn đượcchế ngự; các căn được chế ngự được viên mãn, thờilàm viên mãn Ba thiện hành; Ba thiện hành được viên mãn,thời làm viên mãn Bốn niệm xứ; Bốn niệm xứ được viênmãn, thời làm viên mãn Bảy giác chi; Bảy giác chi đượcviên mãn, thời làm viên mãn Minh giải thoát" (Tăng Chi 10.61).

Vềthân cận bậc chân nhân, Ngài giảng:

-"Thế nào là làm bạn với thiện? Ở đây, thiện nam tử sốngtại làng hay tại thị trấn. Tại đấy có gia chủ hay conngười gia chủ, những trẻ được nuôi lớn trong giới đức,hay những người lớn tuổi được lớn lên trong giới đức,đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí,đầy đủ trí tuệ, vị ấy làm quen, nói chuyện, thảo luận.Với những người đầy đủ lòng tin, vị ấy học tập vớiđầy đủ lòng tin. Với những người đầy đủ giới đức,vị ấy học tập với đầy đủ giới đức. Với những ngườiđầy đủ bố thí, vị ấy học tập với đầy đủ bố thí.Với những người đầy đủ trí tuệ, vị ấy học tập vớiđầy đủ trí tuệ. Đây gọi là làm bạn với thiện" (TăngChi 8.54).

RồiNgài khuyên:

Nếuthấy bậc hiền trí,
Chỉlỗi và khiển trách,

Nhưchỉ chỗ chôn vàng,

Hãythân cận người trí!

Thâncận người như vậy,

Chỉtốt hơn, không xấu. (Pháp Cú, 76)

Chớthân với bạn ác,
Chớthân kẻ tiểu nhân.

Hãythân người bạn lành,

Hãythân bậc thượng nhân. (Pháp Cú, 78)

ĐứcPhật đề cập đến 5 lợi ích của việc biết nghe diệupháp: (1) được nghe điều chưa nghe, (2) làm cho trong sạchđiều được nghe, (3) đoạn trừ nghi, (4) làm cho tri kiếnchánh trực, và (5) làm cho tâm tịnh tín (Tăng Chi, 5.202).

Trongkinh "Tất cả các lậu hoặc" (Trung Bộ 2), Đức Phật dạyvề pháp như lý tác ý để điều hướng các sự suy nghĩcủa mình sao cho có lợi lạc trên đường tu tập, như sau:

-"Này các Tỳ-khưu, thế nào là các pháp cần phải tác ý vàvị ấy tác ý? Này các Tỳ-khưu, những pháp nào do vị ấytác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậuđã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanhkhởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậuchưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừdiệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tácý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tácý, tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưasanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừdiệt.

Vịấy như lý tác ý: Ðây là khổ; như lý tác ý: Ðây là khổtập; như lý tác ý: Ðây là khổ diệt; như lý tác ý: Ðâylà con đường đưa đến khổ diệt. Nhờ vị ấy tác ý nhưvậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giớicấm thủ. Này các Tỳ-khưu, các pháp ấy được gọi là phápdùng tri kiến để đoạn trừ các lậu hoặc".

KhiTỳ-khưu Kotthika hỏi ngài Trưởng lão Xá Lợi Phất cần phảinhư lý tác ý thế nào để được giải thoát, ngài đáp:

-"Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-khưu giữ giới cần phải nhưlý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ungnhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại,rỗng không, vô ngã.

Nămthủ uẩn đó là gì? Đó là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn,tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiềngiả Kotthika, vị Tỳ-khưu giữ giới cần phải như lý tácý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt,mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗngkhông, vô ngã" (Tương Ưng 22.122).

Vềthực hành pháp và tùy pháp, ở đây được giảng rộng ra,bao gồm chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ các căn, huân tậpba thiện hành (thân, khẩu, ý), thực hành bốn niệm xứ (thân,thọ, tâm pháp), và phát triển bảy giác chi (niệm, trạchpháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả).

Trongnhiều bài kinh (Tương Ưng Bộ, Phẩm Dự Lưu), Đức Phậtthường đề cập đến bốn đặc tính của một vị thánhDự lưu là: niềm tín thành bất động nơi Đức Phật, nơiGiáo Pháp của Ngài, nơi đoàn thể các vị Thánh Tăng và cógiới đức cao thượng, lúc nào cũng được các bậc chânnhân khen ngợi. Trong Tăng Chi 10.92, Ngài giảng:

-"Thế nào là thành tựu bốn Dự lưu phần? Ở đây, này Giachủ, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đốivới Đức Phật: Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh ÐẳngGiác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô ThượngSĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: Phápđược Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, khôngcó thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng,được người trí tự mình giác hiểu. Vị ấy thành tựutịnh tín bất động đối với chúng Tăng: Diệu hạnh làchúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử ThếTôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnhlà chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúngđệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôntrọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, làphước điền vô thượng ở đời. Vị ấy thành tựu vớinhững giới đức được các bậc Thánh ái kính, không bịphá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, khôngbị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được bậc trí tánthán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định."

Mặcdù đoạn kinh trên thường được xem là các tiêu chuẩn cănbản của quả Dự lưu, trong kinh điển còn có ghi các danhsách khác, trong đó, tiêu chuẩn về giới hạnh được thaythế bằng tiêu chuẩn bố thí và trí tuệ:

- TươngƯng 55.32 ghi tiêu chuẩn thứ tư như sau: "Lại nữa, vịThánh đệ tử trú ở gia đình, với tâm thoát khỏi cấu uếcủa xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thútừ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vậtbố thí."

- TươngƯng 55.33 ghi tiêu chuẩn thứ tư như sau: "Lại nữa, vịThánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệtcác pháp, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập các pháp, đưađến chơn chánh đoạn tận khổ đau."

Khicác danh sách liệt kê này được kết hợp lại, chúng ta cóđược bốn đức tính của vị Thánh Dự Lưu: (1) đầy đủlòng tin, (2) đầy đủ giới đức, (3) đầy đủ bố thí,và (4) đầy đủ trí tuệ.

Đócũng là bốn pháp đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tươnglai cho một cư sĩ Phật tử:

-"Có bốn pháp đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tươnglai cho thiện nam tử. Thế nào là bốn? Đó là đầy đủ lòngtin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trítuệ" (Tăng Chi 8.54).

Ởđây, lòng tin nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) không phải chỉđơn thuần là sự tin tưởng, sùng tín mù quáng. Vị Dự Lưuthật sự tín nhiệm, tin tưởng nơi nguyên lý nghiệp quả- nguyên lý của hành động và hậu quả - vì vị ấy đãchứng nghiệm rõ ràng khi bắt đầu nhập dòng Thánh.

*

Tronggiai đoạn tu tập kế tiếp, khi tham dục (tham đắm vào dụcgiới) và sân hận được trừ khử một cách đáng kể thìngười đó đắc quả Nhất lai, nghĩa là có thể còntái sinh làm người hoặc trong cõi trời dục giới một lầnnữa. Khi hai kiết sử tham dục và sân hận được loại bỏhoàn toàn, thì người ấy đắc quả Bất lai, nghĩa làkhông còn tái sinh vào cõi dục giới nầy nữa. Năm kiết sửđầu tiên nầy gọi là hạ phần kiết sử (orambhāgiya-samyojana),cột trói chúng sinh trong cõi dục. Tùy theo trình độ chứngđạt, bậc thánh Bất lai sẽ thác sinh về Tịnh cư thiên thuộccõi trời sắc giới (rūpa-loka), trước khi nhập Niết-bàntối hậu. Ba quả vị Dự lưu, Nhất lai, Bất lai cũng thườngđược gọi chung là quả vị của bậc thánh Hữu học.

Ngườiấy tiếp tục hành trì thanh lọc tâm ý, và tinh tấn trừkhử năm kiết sử còn lại: tham đắm vào cõi sắc, tham đắmvào cõi vô sắc, trạo cử vi tế, mạn, và si vi tế. Năm kiếtsử nầy gọi là thượng phần kiết sử (uddhambhāgiya-samyojana),cột trói chúng sinh trong cõi sắc và vô sắc. Ở đây, thamđắm vào cõi sắc và cõi vô sắc là sự tham đắm vào bốntầng thiền-na hữu sắc (rūpa-jhāna)và bốn tầng thiền-navô sắc (arūpa-jhāna). Trạo cử vi tế là trạng tháivẫn còn một vài giao động nhỏ trước trần cảnh, mạn(māna)là các ý tưởng so sánh, và si vi tế là mộtvài dấu vết vô minh ngăn che còn sót lại.

*

Ðếnlúc đó, người ấy đã phá tung tất cả mười sợi dây tróibuộc, trừ khử mười loại kiết sử ô nhiễm, lậu hoặcđã đoạn tận, tuệ giác khai mở, không còn tạo nghiệp,không còn phải tái sinh, luân hồi nữa. Nói một cách khác,như đã mô tả trong Trung Bộ Kinh, bài kinh số 1 (Kinh PhápMôn Căn Bản), đối với người ấy: "các lậu hoặc đãtận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặtgánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừhữu kiết sử, đạt chánh trí giải thoát". Người ấytrở thành bậc A-la-hán, bậc thánh Vô học, đắc đạoquả Niết Bàn, giải thoát rốt ráo tối hậu.







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/11/2017(Xem: 17140)
Các đối tượng vật chất mà chúng ta nhìn thấy là tương đối chứ không có một thực tại khách quan; chúng là những biểu hiện của tâm. Chúng có mặt trong những hiện khởi cảm giác của tâm. Không có thực tại riêng biệt nằm ở đâu đó bên ngoài.
21/11/2017(Xem: 23561)
Hàng năm, từ trung tuần tháng 12 dương lịch, các tự viện khắp nơi đều hoan hỷ chuẩn bị tổ chức các khóa tu để cúng dường lễ vía Đức Phật A Di Đà, vị Phật đã phát 48 đại nguyện cứu độ chúng sanh, vị Phật gần gũi trong tâm tưởng Phật tử khắp năm châu bốn biển, bất luận mầu da, tiếng nói, bất luận giầu nghèo, sang hèn, bất luận nam nữ, già trẻ ….
21/11/2017(Xem: 11760)
Mưa nhẹ trong đêm. Lắng tai thật kỹ mới nghe được tiếng rơi tí tách bên ngoài qua khung cửa kiếng đóng kín. Hàng cây cao rũ lá ướt trên các nhánh khô gầy đầu thu. Đèn đường lặng soi trên những vũng đọng. Côn trùng im tiếng. Không có tiếng đập cánh của chim đêm. Không có tiếng chân người dẫm xào xạc trên lá. Cũng không có tiếng động cơ nào của xe cộ trên đường. Hơi thở nhẹ như tơ trời. Nhẹ như hư không.
14/11/2017(Xem: 16172)
Dưới đây là bài phỏng vấn Giáo sư Trung Quốc Ji Zhe (汲 喆/Cấp Triết) về tình trạng Phật giáo ngày nay tại quê hương của ông. Bài phỏng vấn được đăng trên nhật báo "Le Monde" của Pháp ngày 9 tháng 9 vừa qua với tựa: "Đức Phật mặc áo màu đỏ" (Bouddha en habit rouge), và đồng thời cũng được đưa lên trang mạng của tờ báo này, nhưng lại mang tựa khác: "Tại Trung Quốc, chính quyền công cụ hóa Phật giáo đổi mới" (En Chine, le pouvoir instrumentalise le renouveau bouddhiste).
10/11/2017(Xem: 14073)
Trong các tổ chức, cộng đồng, quốc gia trên thế giới, nơi nào cũng có phép tắc luật lệ riêng mà thành viên thuộc các tổ chức đó hay người dân thuộc cộng đồng hay quốc gia đó bắt buộc phải tuân thủ. Mục đích của luật lệ là nhằm giữ cho cộng đồng có được trật tự, ngăn ngừa giảm thiểu những tai ương tội ác do kẻ xấu cố tình gây ra.
05/11/2017(Xem: 15235)
Hành Trình Về Con Đường Giáo Dục Của Phật Giáo, Nếu nói về việc học, việc tu của chư Tăng Ni Phật Giáo thì tự ngàn xưa Đức Phật đã là một bậc Thầy vĩ đại đảm trách làm một Hướng đạo sư cho mọi người quy về. Trên từ những vị xuất gia, dưới đến vua, quan và thứ dân, ai ai cũng một lòng quy ngưỡng về giáo lý thậm thâm vi diệu ấy. Mục đích chính của việc tu tập là thoát ly khỏi cảnh giới khổ đau nầy, để trở về với bản lai diện mục thanh tịnh, giải thoát của mỗi người. Đức Phật cũng đã từng nói rằng: “Ta chỉ là một Đạo Sư”, nghĩa là một kẻ dẫn đường. Kẻ dẫn đường ấy chính là Thầy của chúng ta và bất cứ ai trong đời nầy dẫn được ta đi vào Đời hay vào Đạo đều là Thầy của chúng ta cả.
30/10/2017(Xem: 15452)
Giữa tháng 9 năm 2017, chúng tôi đi Paris, nước Pháp, để thăm gia đình và bạn bè, đã 10 năm chưa có dịp gặp lại. Thi và tôi đã để ra 3 ngày đi thăm vợ chồng người bạn của Thi khi còn học ở trường Trung học Gia Long - Saigon, vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Chị Hồng và anh Ngọc đang ở tại thành phố Oberhausen. Đây là thành phố nằm trong vùng kỹ nghệ sông Ruhr thuộc tiểu bang NordRhein- Westfalen, phía Tây-Bắc nước Đức.
30/10/2017(Xem: 20085)
Dưới đây là bài viết của Lạt-ma Denys tóm lược một số các bài thuyết giảng của chính tác giả tại ngôi chùa Tây Tạng Karma Ling, tọa lạc trong vùng núi Alpes trên đất Pháp. Bài viết nêu lên một sự hiểu biết mang một tầm quan trọng vô song trong Dharma/Đạo Pháp của Đức Phật, đó là khái niệm "Tương liên, tương tác và tương tạo" giữa tất cả mọi hiện tượng dù vô hình hay hữu hình, thuộc thế giới bên ngoài hay bên trong tâm thức một cá thể. Tiếng Pa-li gọi khái niệm này là Paticca-samuppada, tiếng Phạn là Pratitya-samutpada, tiền ngữ "pratitya" có nghĩa là "lệ thuộc vào" [một thứ gì khác], hậu ngữ "samutpada" có nghĩ là "hiện lên" hay "hình thành"..., Các ngôn ngữ Tây Phương gọi khái niệm này là: Interdependence, dependent origination, dependent arising, dependent co-production, conditioned co-production, conditioning co-production, v.v.; kinh sách Hán ngữ gọi là "Lý duyên khởi". Có thể tạm dịch sang tiếng Việt là "Nguyên lý tương liên, tương tác và tương tạo", tuy nhiên cũng có thể gọi vắn
27/10/2017(Xem: 17486)
Là người sống ở thế gian, có ai tránh khỏi một đôi lần gặp bất trắc, tai ương lớn hay nhỏ. Nhỏ như chuyện bất hoà khó chịu xảy ra liên tục với người xung quanh. Nhỏ như yêu thương người này ghét bỏ người kia một cách tự nhiên, hay người này cực khổ chăm sóc nuôi dưỡng người kia mà bị người kia càm ràm nặng nhẹ gây khó dễ hết chuyện này sang chuyện khác, hoặc chính bản thân mình đau ốm bệnh hoạn triền miên chạy chữa khắp nơi mà không dứt bệnh. Lớn như chuyện con cái trong nhà không nghe lời dạy dỗ của cha mẹ, ra ngoài xã hội quậy phá phạm luật chịu cảnh tù tội khiến kẻ làm cha làm mẹ chịu nhiều lo âu và đau khổ.