05. Đầu năm đi chùa

02/02/201108:57(Xem: 12139)
05. Đầu năm đi chùa

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO
Cư Sĩ Chánh Trực
Toronto, Canada 1999 - PL 2543

Đầu năm đi chùa
đúng theo chánh pháp

Đầu năm đi chùa
đúng theo chánh pháp
Theo thông lệ xưa,
cứ vào dịp Tết,
Nguyên Đán hằng năm,
nhiều người Phật Tử,
cũng như mọi người,
không phải Phật Tử,
thường hay đi chùa,
lễ Phật đầu năm,
hái lộc đầu xuân,
thắp hương khấn vái,
cầu nguyện chư Phật,
chư vị Bồ Tát,
tổ tiên ông bà,
phù hộ độ trì,
năm mới trọn lành,
bình yên vô sự,
tai qua nạn khỏi,
vạn sự kiết tường,
muôn sự hanh thông,
mọi việc như ý.

Đó là truyền thống,
tín ngưỡng lâu đời,
chúng ta giữ gìn,
từ thế hệ này,
sang thế hệ khác,
từ ở trong nước,
ra đến hải ngoại.
Bất cứ nơi nào,
người Việt sinh sống,
trước hay là sau,
sớm hay là muộn,
cũng có cảnh chùa,
cũng có tu viện,
Phật đường Thiền đường,
tịnh thất thiền thất,
đạo tràng tu học,
dựng lên phát triển,
công sức bá tánh,
tịnh tâm tịnh tài,
để cho mọi người,
có nơi lễ Phật,
có nơi tạo phước,
có nơi tưởng niệm,
tổ tiên ông bà,
phát huy văn hóa,
có nơi tĩnh tâm,
sau những tháng ngày,
đấu tranh tranh đấu,
kiếm sống vất vã,
trong suốt cuộc đời,
đầy dẫy khó khăn,
những sự bất trắc,
việc bất như ý,
căng thẳng muộn phiền,
hệ lụy trầm kha,
mất mát vật chất,
cũng như tinh thần,
thăng trầm sóng gió,
quan trọng nhứt là:
có nơi tu học,
thực hành Chánh Pháp,
để đạt mục đích,
giác ngộ giải thoát,
dứt trừ những chuyện,
phiền não khổ đau,
thoát ly sanh tử,
luân hồi nhiều kiếp.

Tuy nhiên như vậy,
con người đạt được,
cuộc đời bình an,
như lời cầu nguyện,
hay không đạt được,
chuyện đó không tùy,
các đấng thiêng liêng,
các vị thần linh,
ngọc hoàng thượng đế,
bất cứ vị nào.
Tại sao như vậy?
Bởi vì sự thực,
thánh thần thiên địa,
các vị thiêng liêng,
nếu là các bậc,
chí công vô tư,
bất tùy phân biệt,
không bao giờ làm,
các chuyện bất công,
thiên vị kỳ thị,
ban cho con người,
những điều van xin,
cầu nguyện khấn vái,
dù là thành khẩn,
đến mức độ nào,
nếu như người đó,
không đáng được nhận,
chẳng đáng được hưởng,
mà lại không ban,
cho bao người khác,
xứng đáng hơn nhiều!

Thực ra đúng là,
tất cả những chuyện,
vui buồn sướng khổ,
hỷ nộ ái ố,
những bước thăng trầm,
của cuộc đời này,
đều tùy thuộc vào,
nghiệp duyên mỗi người,
đều tùy thuộc vào,
phước báu mỗi người,
tạo được từ trước,
cho đến giờ này.
Chẳng hạn như là:
người nhiều phước báu,
cuộc đời của họ,
gặp nhiều may mắn,
gặp đủ thuận duyên,
tai qua nạn khỏi,
chuyện lớn hóa nhỏ,
chuyện nhỏ hóa không,
thường gặp người hiền,
thiện hữu tri thức,
cầu gì cũng được,
ít sóng gió hơn,
ít phiền não hơn,
ít cay đắng hơn,
ít ưu tư hơn,
ít khổ sở hơn,
ít gặp người xấu,
ít gặp hiểm nghèo,
dù họ đang sống,
bất cứ cảnh nào,
bất cứ nơi nào,
cũng vậy mà thôi.

Trái lại nên biết,
những người kém phước,
thường gặp xui xẻo,
gặp sự hiểm nghèo,
thiên tai địa tai,
thủy tai hỏa tai,
gặp người bất thiện,
tổn hữu ác đảng,
sa vào nghịch cảnh,
sóng gió thường xuyên,
khổ sở triền miên,
cầu gì chẳng được,
làm gì chẳng nên,
gia đạo ly tan,
tán gia bại sản,
người thân gặp nạn,
tai họa liên miên.
Những người ít phước,
lao đao lận đận,
khốn khổ như vậy,
bởi vì không biết,
tu nhân tích đức,
không chịu chăm lo,
tu tâm dưỡng tánh,
dù người tuổi già,
hay là tuổi trẻ,
lại còn tiếp tục,
tạo tội tạo nghiệp,
tranh chấp hơn thua,
mua gian bán lận,
bận tâm suy nghĩ,
những chuyện vu khống,
đặt điều cáo gian,
hại người lương thiện,
đòi tiền bồi thường,
vài ba triệu bạc,
giựt hụi quịt nợ,
làm ăn bất chánh,
lường người gạt bạn,
xúi giục mẹ cha,
thưa kiện người ta,
tán gia bại sản,
thân bại danh liệt,
sống dở chết dở,
thiệt là tội nghiệp!

Bởi vậy cho nên,
nhân dịp năm hết,
tết đến hằng năm,
chúng ta cùng nhau,
xét lại cái chuyện,
đi chùa đầu năm,
hay vào dịp khác,
làm sao thực hiện,
cho đúng chánh pháp,
làm sao cho được,
ích lợi thực tế,
có thể giúp đỡ,
cuộc đời hiện tại,
tất cả chúng ta,
chuyển hóa tốt đẹp,
được may mắn hơn,
được an lạc hơn,
được hạnh phúc hơn,
gặp được thiện nhơn,
chỉ đường dẫn lối,
tìm thấy chánh đạo,
biết cách tu tập,
theo đúng chánh pháp,
tu tâm dưỡng tánh,
tránh cảnh chen lấn,
giành giựt hái lộc,
đi chùa đầu năm,
giựt cho bằng được,
trái cam trái quít,
cành hoa nén hương,
để đem về nhà,
gọi là lấy hên,
đồng thời tránh được,
thất vọng não nề,
ngay khi nhận ra,
những người đi chùa,
cũng không khác gì,
những người ngoài đời,
nhiều khi tệ hại,
và nguy hiểm hơn,
cũng như tránh được,
thất vọng nãn lòng,
khi lời cầu nguyện,
không được đáp ứng,
linh nghiệm như ý,
và tránh được cảnh,
mê tín dị đoan,
tiền mất tật mang,
bởi vì tin tưởng,
ông bà thầy bói,
nói bậy nói bạ,
phong thủy địa lý,
hý ngôn đủ thứ,
tự nhận bừa bải,
linh nghiệm như thần,
trúng trăm phần trăm,
vân vân vân vân.

* * *
Trước hết cần biết,
quan niệm đi chùa,
không đúng chánh pháp,
là như thế nào,
nhưng có rất nhiều,
Phật Tử cũng như,
không phải Phật Tử,
hằng năm hằng tháng,
vẫn cứ đi chùa,
theo như cách đó.

1) Theo như tín ngưỡng,
ở trong dân gian,
người ta đi chùa,
van xin khấn vái,
xin xăm xin keo,
xem bói xem tướng,
xem ngày tốt xấu,
quan hôn tang tế,
cầu cơ điểm nhãn,
lên đồng lên cốt,
đốt hình nhân giấy,
đốt giấy vàng bạc,
đô la mỹ kim,
xe hơi nhà lầu,
cầu khẩn thần linh,
thỉnh bùa buôn bán,
tình duyên gia đạo,
thỉnh tượng thần tài,
dâng sớ cầu an,
cúng sao giải hạn.
Những việc làm này,
không thuộc phạm vi,
Phật giáo thuần túy,
nhưng đã từ lâu,
trộn lẫn vào trong,
sinh hoạt chùa chiền,
tạo nhiều ưu phiền,
tạo nhiều nghi kỵ,
xa rời Chánh Pháp,
lạc sang tà đạo,
cần phải chỉnh đốn.
Trong suốt cuộc đời,
năm nào cũng vậy,
chúng ta cũng gặp,
những chuyện may mắn,
vừa ý vui vẻ,
cùng với những chuyện,
kém may không tốt,
khó chịu buồn phiền!
Ngay cả cuộc đời,
các bậc thánh nhân,
các vị giáo chủ,
trên thế gian này,
cũng không ngoại lệ,
có người tán tụng,
tung hô khen ngợi,
bái phục qui ngưỡng,
đồng thời cũng không,
tránh khỏi rắc rối,
phỉ báng mạ lỵ,
vu khống cáo gian.
Thậm chí có vị,
bị bắt bỏ tù,
hay bị xử chết,
một cách thê thảm!
Tại sao như vậy?
Bởi vì dù là
thánh nhân hiền nhân,
bậc đại tu hành,
hay đã đắc đạo,
tất cả đều không,
ra ngoài nhân quả.

Nói một cách khác,
tất cả mọi người,
gây tạo nghiệp nhân,
do thân khẩu ý,
tốt có xấu có,
thiện có ác có,
lành có dử có,
hiền có hung có,
trong vô lượng kiếp,
hay trong kiếp này,
nếu biết ăn năn,
sám hối phát nguyện,
tu tâm dưỡng tánh,
giác ngộ chánh đạo,
giải thoát luân hồi,
tuy nhiên vẫn phải,
cam lòng đền trả,
nghiệp quả đã gieo,
mình làm mình chịu,
thế mới công bằng,
chí công vô tư,
bất tùy phân biệt,
chứ đừng lập đàn,
cầu được bình an,
uổng công vô ích,
đó là quịt nợ!
Khi nào nghiệp quả,
còn gọi nghiệp báo,
hay là quả báo,
đến ngày phải trả,
dù là thánh nhân,
dù là giáo chủ,
giáo phẩm chức sắc,
quyền cao chức trọng,
giàu sang danh vọng,
chí đến thứ dân,
bần cùng cố nông,
cũng không tránh khỏi!

Trong Kinh A Hàm,
Đức Phật có dạy:
Dù có lên non,
xuống biển vào hang,
nghiệp báo đã mang,
vẫn theo con người
như hình với bóng,
không ai có thể
tránh được thoát được.

Người ở thế gian
thường hay thở than:
"trời đã kêu ai,
thì người ấy dạ!",
hoặc là khẳng định
"lưới trời tuy thưa,
mà chưa ai lọt",
chính là nghĩa đó vậy.
Những chuyện vào chùa,
cúng chút tiền lẻ,
hoặc một nén hương,
hay một nãi chuối,
một ít trái cây,
một chút chè xôi,
ôi thôi khấn vái,
hái lộc đầu năm,
tay lắc ống xăm,
mong được quẻ tốt,
tình duyên gia đạo,
thảy đều cát tường,
thường muốn quẻ thượng,
cầu khẩn van xin,
khấn vái thần linh,
cầu cho trúng số,
cầu cho thắng kiện,
cầu cho hơn người,
đấu tranh thắng lợi,
cửu huyền thất tổ,
đều được siêu thăng,
nội ngoại hai bên,
ông bà cha mẹ,
con cháu trong nhà,
bình yên vô sự,
sung sướng tấm thân,
sức khỏe dồi dào,
tai qua nạn khỏi,
thi đâu đậu đó,
được làm quan to,
lúa gạo đầy kho,
giàu sang phú quí,
đem tượng thần tài,
vào chùa điểm nhãn,
cho được linh hiển,
phù hộ làm ăn,
buôn may bán đắt,
một vốn bốn lời,
nhứt bổn vạn lợi,
là những việc làm,
biểu tượng tâm tham,
vô bờ vô bến,
thỏa mãn tâm sân,
như hỏa diệm sơn,
tràn ngập tâm si,
vô minh muôn thuở!
Tham sân si là:
cội nguồn sanh tử,
cần phải dứt trừ,
chính nghĩa đó vậy.

* *
2) Bởi vậy cho nên,
trong Kinh Pháp Cú,
Đức Phật có dạy:
Hãy tự thắp đuốc,
tự mình bước đi.
Thắp sáng trí tuệ,
ngọn đuốc chánh pháp.

Điều đó nghĩa là:
để dẹp trừ dứt,
sinh hoạt mê tín,
hiện tượng dị đoan,
không đúng Chánh Pháp,
những người Phật Tử,
chân chánh phát nguyện,
tu tâm dưỡng tánh,
cầu mong giác ngộ,
chánh đạo giải thoát,
sanh tử luân hồi,
đều cần học hiểu,
thực hành Chánh Pháp,
ngay trong đời sống,
ngay tại thế gian,
tất cả mọi người,
có thể làm được.

Chánh Pháp tại thế gian,
không phải do trời ban,
chính mình phải cầu học,
để có thể áp dụng,
trong đời sống hằng ngày,
chứ không phải là những,
pho kinh điển để thờ,
không thể học hiểu được.

Đức Phật thị hiện,
thế giới ta bà,
giảng kinh thuyết pháp,
giúp đỡ chúng sanh,
thoát ly sanh tử,
phiền não khổ đau.
Tại sao chúng ta,
lại không tìm học,
để đặng áp dụng,
vào trong cuộc sống?

Trong các kinh sách,
chư Tổ có dạy:
Tu mà không học,
đúng là tu mù.
Học mà không tu,
đúng là tủ sách.

Người không phát nguyện,
tu tâm dưỡng tánh,
dĩ nhiên gặp nhiều,
phiền não khổ đau,
mỗi khi nghịch cảnh,
xảy đến thình lình.
Người đã phát tâm,
tu mà không học,
không hiểu Chánh Pháp,
chỉ thực hành suông,
những điều truyền miệng,
người trước làm sao,
người sau làm vậy,
làm sao tránh được,
những điều mê tín,
những chuyện dị đoan,
tam sao thất bổn,
xa rời Chánh Pháp,
gọi là tu mù.
Tam tạng kinh điển,
là do chư Phật,
chư vị Tổ sư,
truyền lại nhiều đời,
há chẳng ích lợi,
gì cả hay sao?
Nếu cứ đọc tụng,
mà vẫn không hiểu,
có thể tìm kiếm,
các vị chân tu,
các bậc tôn đức,
thực học giáo lý,
để xin nương tựa,
để xin chỉ dạy.
Làm được như vậy,
chúng ta tránh khỏi,
những kẻ ngoại nhân,
lợi dụng hình tướng,
tu sĩ Phật giáo,
lẫn lộn vàng thau,
hướng dẫn những điều,
huyễn hoặc huyền bí,
mê tín dị đoan,
xa lìa chánh đạo,
chẳng ích lợi gì!
Những người thu thập,
tam tạng kinh điển,
nghiên cứu từ chương,
tìm phương phô trương,
sở học tri kiến,
cũng chẳng ích lợi,
cho việc thoát ly,
sanh tử luân hồi,
giác ngộ giải thoát,
chỉ là tủ sách,
hay là đãy sách!

Chúng ta không nên,
quan niệm sai lầm,
xem chùa như là,
cái viện dưỡng lão,
dành riêng cho người,
gần đất xa trời,
hay là dành cho,
những người chán đời,
thất bại trên đường,
công danh sự nghiệp,
hoặc là dành cho,
những người chán chê,
tình duyên gia đạo,
ở ngoài thế gian.
Bởi vậy cho nên,
những người phát tâm,
thay đổi hình tướng,
vào tu trong chùa,
bất cứ tuổi nào,
cần nên phát nguyện,
ly thân cắt ái,
dứt bỏ hồng trần,
lìa tam giới gia,
xuất phiền não gia,
tự độ độ tha,
tự giác giác tha,
giác hạnh viên mãn,
cầu học Chánh Pháp,
tu tập tinh tấn,
đến ngày giác ngộ,
thấu rõ biết rành,
cốt tủy đạo Phật,
chứ đừng giải đãi,
tụng kinh ê a,
lóc cóc leng cheng,
như phường hát dạo,
chuyên chú hình thức,
cúng kiến lễ lạy,
cúng sao giải hạn,
quanh năm suốt tháng,
cầu này cầu kia,
vía ông vía bà,
thực là uổng phí,
cả cuộc đời này,
lại còn dẫn dắt,
bao người lầm lạc,
vì tin màu áo,
sa vào tà đạo,
xa rời chánh đạo,
biết đến bao giờ,
quày đầu tỉnh ngộ?

Trong Kinh A Hàm,
Đức Phật có dạy:
Không nên tin ngay,
tất cả những gì,
người xưa đã nói,
tất cả những gì,
người có thế lực,
đạo cũng như đời,
tất cả những gì,
người bề trên nói,
tất cả những gì,
nhiều người tin theo,
có ghi trong sách.
Chỉ nên tin theo,
những gì có thể,
kiểm nghiệm lại được,
đúng với chân lý,
đúng với lẽ thực,
thông qua trí tuệ,
sáng suốt thông minh,
thấy có ích lợi,
cho bản thân mình,
và cho mọi người.
Để tránh sai lầm,
cho chính chúng ta,
không tin mù quáng,
bất cứ lời nào,
do những người có,
thế lực ngoài đời,
cũng như thế lực,
trong các tổ chức,
tôn giáo thế gian,
chúng ta nhứt định,
phải biết suy xét,
tư duy nghiền ngẫm,
đối chiếu so sánh,
với tam tạng kinh,
tạng luật và luận.
Hơn như thế nữa,
ở trong Phật giáo,
có "Tam Tuệ Học",
tức ba môn học,
giúp đỡ con người,
phát sanh trí tuệ,
thông minh sáng suốt,
phân biệt rõ ràng,
chánh đạo tà đạo,
có được chánh kiến
và được chánh tín,
tránh được những điều
mê tín dị đoan.
Ba môn học đó
là: "Văn, Tư, Tu".

Trước hết cần phải,
lắng nghe lời giảng,
của thiện tri thức,
phải học kinh điển,
và những lời dạy,
của chư tôn đức.
Xong rồi sau đó,
chúng ta phải biết,
tư duy quán chiếu,
suy nghĩ nghiền ngẫm,
một cách kỹ lưỡng,
một cách tường tận,
một cách thấu triệt.
Khi nào nhận thấy,
những lời dạy đó,
quả thực đem lại,
an lạc cho mình,
ích lợi cho người,
chúng ta bắt đầu,
tu tập thực hành,
vào trong đời sống,
hằng ngày hằng giờ,
của chính chúng ta.

Chẳng hạn như là:
những lời tiên tri,
về ngày tận thế,
đã từng làm cho,
bao nhiêu con người,
nhẹ dạ dễ tin,
nơi đấng thần quyền,
phải chịu điêu đứng,
tự sát tập thể,
trước năm 2000,
biến động vừa qua.
Chẳng hạn như là:
những chuyện phép lạ,
chữa người tê liệt,
đi đứng lại được,
chữa cho người mù,
thấy được ánh sáng,
đều là những chuyện,
không tưởng hoang đường,
chẳng ích lợi gì,
cho việc phát nguyện,
tu tâm dưỡng tánh,
chỉ đem lợi nhuận,
một cách kếch xù,
cho người lợi dụng,
đức tin mù quáng,
của mọi người khác.
Tại sao như vậy?
Bởi vì nếu thực,
có vị thánh nhân,
cứu cho người chết,
sống trở lại được,
thử hỏi sau này,
nếu như người đó,
lại chết lần nữa,
ai cứu họ đây?
Lần này chết thiệt!
Không sống lại đâu!
Tại sao như vậy?
Bởi vì cái vị,
gọi là thánh nhân,
đã bị người khác,
giết chết mất rồi,
ai mà cứu nổi!

Khi Phật tại thế,
có một thiếu phụ,
khẩn cầu Đức Phật,
cứu sống người con,
mới vừa qua đời.
Đức Phật bèn bảo,
người thiếu phụ đó,
đi xin đem về,
cho được hột cải,
từ gia đình nào,
không bao giờ có,
người đã qua đời.
Dĩ nhiên rõ ràng,
người thiếu phụ đó,
không sao tìm được,
hột cải như vậy.
Bởi vậy cho nên,
người thiếu phụ đó,
liền giác ngộ được,
"lý lẽ vô thường"
của cuộc đời này:
không có cái gì,
ở trên đời này,
tồn tại vĩnh viễn,
không có người nào,
trẻ mãi không già,
sống mãi không chết,
dù cho người đó,
là bất cứ ai,
giàu sang nghèo hèn,
thông minh ngu dốt,
quan chức thường dân,
tu sĩ tín đồ,
da đen da trắng,
da vàng da đỏ,
khỏe mạnh đau yếu,
tất cả cũng đều,
có ngày bắt buộc,
từ giã cuộc đời,
hai bàn tay trắng,
chỉ đem theo được,
cả khối nghiệp báo,
đã gây tạo nên,
trong suốt cuộc đời,
sống trong vô minh,
không biết chánh đạo.
* * *
Tóm lại nên biết,
khi gặp thuận cảnh,
nhiều sự may mắn,
cuộc đời an vui,
chúng ta nên biết,
đang hưởng phước báo,
tiếp tục cố gắng,
tu tâm dưỡng tánh,
tạo thêm phước báu,
tránh xa các việc,
tạo tội tạo nghiệp,
dù trong hành động,
dù trong lời nói,
hay trong ý nghĩ.
Khi gặp nghịch cảnh,
khốn khổ khó khăn,
cuộc đời sóng gió,
chúng ta biết ngay,
mình kém phước báo,
phải trả nghiệp báo,
không thể tránh khỏi,
không thể cầu an,
cho nên quyết chí,
tu tâm dưỡng tánh,
giúp đời giúp người,
làm việc phước thiện,
nhứt định chuyển nghiệp,
chuyển hóa tâm tánh,
tu theo chánh đạo,
từ bi hỷ xả,
bình tĩnh thản nhiên,
trước mọi sóng gió,
của cuộc đời này.

Chúng ta quyết tâm,
từ đây trở đi,
đầu năm đi chùa,
chánh tín lễ Phật ,
mỗi năm một lần,
hay thường xuyên hơn,
mỗi tháng mỗi tuần,
đều với mục đích:
cầu học chánh pháp,
gần gũi bạn đạo,
thảo luận pháp tu,
thọ bát quan trai,
hành thập thiện giới,
trao đổi kinh nghiệm,
đọc kinh đọc sách,
thỉnh băng thuyết pháp,
đem về tu học,
tinh tấn thường xuyên,
nội cần khắc niệm,
tạo được công phu,
ngoại hoằng bất tranh,
tạo nên đức độ,
bên trong tĩnh lặng,
bên ngoài an vui,
cho đến một ngày,
giác ngộ chân lý,
giải thoát phiền não,
chẳng thấy khổ đau,
mặc dù vẫn sống,
ngay tại thế gian,
như bao người khác,
thân tâm tự tại,
an lạc hạnh phúc,
cư trần lạc đạo.






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14252)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20191)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17396)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14898)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16670)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12708)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11600)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12054)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8013)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9047)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.