Chương V: Đau Khổ

08/12/201016:47(Xem: 15859)
Chương V: Đau Khổ

 

TẤM LÒNG RỘNG MỞ
LUYỆN TẬP LÒNG TỪ BI TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY

Tác giả Dalai Lama - Lê Tuyên biên dịch - Lê Gia hiệu đính
Dịch từ nguyên tác tiếng Anh: An Open Heart Practicing Compassion in EverydayLife

CHƯƠNG V
ĐAU KHỔ
(AFFLICTIONS)

Chúng ta đã nói vềnhững cảm xúc đau khổ và những tác hại mà chúng gây ra cho tâm hồn chúng ta.Tôi phải công nhận rằng chúng ta ai cũng có những cảm xúc như tức giận, khaokhát… .Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là chúng ta bỏ mặt những cảm xúc đó.Tôi biết rằng ở trường Tâm lý Western người ta khuyến khích bày tỏ biểu lộ mọicảm giác và cảm xúc, thậm chí là những cảm xúc tức giận. Dĩ nhiên là có một sốngười đã gặp phải một số vấn đề đau thương mất mát trong quá khứ của họ, nếunhững cảm xúc này bị kìm nén, quả thực chúng có thể gây ra những tác hại tâm lýlâu dài. Trong trường hợp như vậy, nói theo kiểu người Tây Tạng "Khi vỏ sòhé mở, cách tốt nhất làm cho nó sạch sẽ là hãy thổi vào nó!".

Vì vậy , tôi thật sự cảmthấy rằng những ai rèn luyện tâm hồn nên chọn cho mình một phương pháp kháng cựnhững cảm xúc mạnh mẽ như tức giận, tình cảm lưu luyến , ganh tị và phải pháthuy tối đa khả năng kềm chế của mình. Thay vì tự cho phép mình đam mê những cảmxúc mạnh mẽ, chúng ta nên cố gắng giảm thiểu sự lôi cuốn cám dổ của chúng. Nếuchúng ta tự hỏi bản thân rằng chúng ta sẽ hạnh phúc hơn khi chúng ta tức giậnhay khi chúng ta bình tĩnh sáng suốt, thì câu trả lời quá rõ ràng. Như trướcđây chúng ta đã thảo luận, trạng thái tinh thần rối loạn là do những cảm xúcđau khổ xuất hiện làm chúng ta mất thăng bằng, chúng làm cho chúng ta bất an vàbuồn phiền. Đ ể tìm được nguồn hạnh phúc lâu dài, chúng ta phải chiến đấu vớinhững cảm xúc đau khổ này. Chúng ta có thể đạt được qua việc rèn luyện và nổlực bền bỉ trong suốt một khoảng thời gian dài- cũng có thể là cả cuộc đời haytừ đời này sang đời khác.

Như chúng ta đã biết,những nổi đau tinh thần không hoàn toàn biến mất; chúng cũng không đơn giảntiêu tan theo thời gian . Chúng chỉ kết thúc khi chúng ta tỉnh táo đẩy lùichúng, giảm thiểu tác hại của chúng và cuối cùng loại trừ chúng hoàn toàn.

Nếu chúng ta muốn thànhcông, chúng ta phải biết cách tham gia chiến đấu với những cảm xúc đau khổ đó.Chúng ta bắt đầu luyện tập học thuyết Dharma của Đ ức Phật bằng cách đọc vànghe những bậc thầy kinh nghiệm giảng giải. Đ ây là cách để chúng ta có thể cảithiện hoàn cảnh khó khăn của mình trong vòng luẩn quẩn của cuộc đời và trở nênnhuần nhuyễn những phương pháp luyện tập giúp chúng ta thoát khỏi vòng luẩnquẩn đó. Với sự nghiên cứu học tập như vậy chúng ta sẽ có được "những hiểubiết có được nhờ lắng nghe". Nó cũng là nền tảng cần thiết cho việc khaithông tâm hồn. Sau đó chúng ta phải suy ngẫm về tất cả những kiến thức và thôngtin mà chúng ta đã học hỏi được, rút ra những kết luận thâm thuý. Làm như vậychúng ta sẽ có được "những hiểu biết có được nhờ chiêm nghiệm". Mổikhi chúng ta có được sự tin tưởng tuyệt đối vào những gì mình đã học hỏi được,chúng ta trầm tư thiền định về những vấn đề đó, nhờ vậy tâm hồn của chúng ta cóthể hòa tan, trộn lẫn vào những vấn đề mà bản thân đã đọc được. Điều này đemđến cho chúng ta sự nhận thức được goi là "những hiểu biềt có được nhờthiền định".

Ba mức độ hiểu biết nàyrất quan trọng trong việc đánh giá những thay đổi thật ự trong cuộc đời chúngta. Với những hiểu biết có được qua việc nghiên cứu học tập, lòng tin tường củachúng ta trở nên sâu sắc hơn, tạo ra sự thông suốt về thiền định. Nếu chúng tathiếu mất những hiểu biết có được qua nghiên cứu học tập và chiêm nghiệm thìcho dù chúng ta có thiền định chuyên tâm, chúng ta cũng sẽ gặp phải một số khókhăn lớn để có thể thông suốt về vấn đề mà chúng ta thiền định, đó cũng là bảntính luẩn quẩn của những điều đau khổ của chúng ta. Điều này cũng giống như làchúng ta bị ép buộc phải gặp một người mà chúng ta không muốn gặp. Vì vậy chúngta phải cố gắng thực hiện được 3 mức độ hiểu biết này liên tục với nhau .

Hoàn cảnh xung quanh ảnhhưởng nhiều đến chúng ta. Chúng ta cần phải có một không gian yên tĩnh để thựchiện việc luyện tập. Điều quan trọng là chúng ta cần phải luyện tập ở những nơivắng vẻ- có vậy tâm hồn chúng ta mới không bị xao lãng.

KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT
( OUR MOST DESTRUCTIVEENEMY)
Việc luyện tập Dharmacủa chúng ta phải là một quá trình nổ lực không ngừng nhằm đạt được trạng tháithoát khỏi những điều đau khổ. Nó không đơn giản là một hành vi đạo đức qua đóchúng ta tránh những điều tiêu cực và phát huy những điều tích cực. Trong việcluyện tập Dharma, chúng ta cố tìm cách vượt qua hoàn cảnh mà tất cả chúng tađều gặp phải: những nạn nhân của đau khổ – kẻ thù số một của sự bình an tronglòng chúng ta. Những đau khổ này như là tình cảm lưu luyến, lòng căm thù, tínhkiêu căng, lòng tham…- là những cảm xúc xui khiến chúng ta cư xử theo những xuhướng tạo ra những đau khổ cho chính bản thân mình. Trong khi luyện tập nhằmđạt được sự bình an và hạnh phúc trong tâm hồn, chúng ta phải luôn xem chúngnhư là ma quỷ, bởi vì chúng giống như là ma quỷ, chúng luôn ám ảnh chúng ta,chúng chẳng đem đến ích lợi gì ngoài những điều đau khổ bất hạnh. Trạng tháivượt ra khỏi những cảm xúc và những suy nghĩ tiêu cực, vượt ra khỏi mọi nỗibuồn phiền gọi là Niết Bàn (Nirvana).

Ban đầu chúng ta khôngthể đối đầu trực tiếp với những sức mạnh tiêu cực này. Chúng ta phải từ từ tiếpcận chúng. Trước hết chúng ta phải áp dụng hình phạt; chúng ta kềm chế để khôngbị áp đảo bởi những suy nghĩ và cảm xúc này. Chúng ta làm như vậy bằng cáchchọn một hình phạt hợp với luân thường đạo lý. Theo Phật giáo, điều này cónghĩa là chúng ta kềm chế 10 hành vi phi đạo đức. Những hành vi này là biểuhiện của những nổi đau tinh thần sâu sắc: tức giận, căm thù và lòng lưu luyến.

Khi chúng ta suy nghitheo chiều hướng này, chúng ta sẽ nhận ra rằng những cảm xúc cao độ như lònglưu luyến – đặc biệt là cảm xúc tức giận và căm thù – rất có hại khi chúng xuấthiện. Chúng ta có thể nói rằng những cảm xúc này là một lực lượng phá hoại thậtsự đối với thế gian này. Chúng ta có thể nói rằng hầu hết mọi rắc rối và đaukhổ mà chúng ta gặp phải đều do những cảm xúc tiêu cực này gây ra. Chúng ta cóthể nói rằng mọi đau khổ đều là hậu quả của những cảm xúc tiêu cực như lưuluyến, lòng tham, ganh tị, ngạo mạn, tức giận và căm thù.

Mặc dù ngay tức thờichúng ta không thể diệt trừ tận gốc những cảm xúc này, nhưng ít ra chúng tacũng không hành động theo những cảm xúc đó. Từ đây, chúng ta phát huy nổ lựcchiêm nghiệm thiền định của mình để chống lại những đau khổ tâm hồn của chúngta và luyện tập một lòng từ bi sâu sắc hơn. Sau cùng chúng ta sẽ trừ diệt mọiđau khổ này. Để làm được điều đó chúng ta cần phải có được nhận thức về tìnhtrạng trống rỗng.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 20049)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17296)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14786)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16266)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12258)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11135)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11708)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7673)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8721)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8055)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.