Lời Tựa

08/12/201016:38(Xem: 17546)
Lời Tựa

 

TẤM LÒNG RỘNG MỞ
LUYỆN TẬP LÒNG TỪ BI TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY

Tác giả Dalai Lama - Lê Tuyên biên dịch - Lê Gia hiệu đính
Dịch từ nguyên tác tiếng Anh: An Open Heart Practicing Compassion in EverydayLife

LỜI TỰA

Lòng từ bi trong Phậtgiáo được cắt nghĩa là lòng mong ước sao cho tất cả mọi người đều vượt qua mọiđau khổ và bất hạnh. Chẳng may, tất cả chúng ta khó có the åthoát ra khỏi thếgiới của sự đau khổ đó. Chúng ta không thể tự trách mình được, không có chiếcđũa thần nào để biến đau khổ thành hạnh phúc. Chúng ta chỉ có thể rèn luyện tâmhồn mình ngày một nhân đức hơn và từ đó ta giúp mọi người làm được như vậy .

Tháng 8 năm 1999, ĐứcGiáo hoàng Dalai Lama (His Holiness the Dalai Lama) được Chính quyền Tây Tạngvà Tổ chức Gere (The Tibet Center and The Gere Foundation) mời đến New York đểtrao đổi.

Cuốn sách này được tríchdẫn từ những cuộc trao đổi đó. Trong những trang sau, Đức Giáo hoàng Dalai Lamasẽ chỉ cho chúng ta biết cách làm sao đểû rộng mở trái tim của chúng ta và pháttriển lòng từ bi bền vững và chân thật với mọi người. Toàn bộ cuộc đời của ĐứcGiáo hoàng là một bằng chứng về sức mạnh của sự rộng mở trái tim.

Đức Giáo hoàng đã làmviệc tích cực nhằm bảo tồn mọi di tích về nền văn hóa Tây Tạng. Đặc biệt, ôngnổ lực vì truyền thống tôn giáo của người Tây Tạng. Đối với người Tây Tạng, tôngiáo và văn hoá là hai điều không thể tách rời. Ông vẫn tiếp tục nghiên cứu,suy niệm và thiền định, ông không hề mệt mỏi trong việc truyền bá Phật giáo chomọi người trên toàn thế giới. Ông cống hiến mọi nổ lực của mình cho việc táilập , các tu viện, nhà dòng, các buổi giãng dạy truyền thống và tất cả những gìphục vụ cho việc bảo tồn những hiểu biết về người sáng lập ra Phật giáoShakyamuni Buddha.

Khi còn ở New York,Dalai Lama đã giảng giải ba ngày ở giảng đường Beacon (Beacon theatre). Chủ đềcủa những cuộc trao đổi này tập trung vào những phương pháp của nhà Phật, làmsao để loài người đạt được sự giác ngộ hoàn toàn. Ông đã trình bày qua hai nộidung: cuốn " những giai đọan thiền định" của tác giả là một thạc sĩngười Ấn Độ, Kamalashila, vào thế kỷ thứ VIII và cuốn "37 bài luyện tậpcủa những vị Bồ Tát" (The thirty- seven pratices of bodhisattvas) của tácgiả là một chuyên gia người Tây Tạng Togmay Sangpo, vào thế kỹ thứ XIV.

Cuốn sách củaKamalashila chỉ dẫn rõ ràng và vắn tắt những gì được gọi là giai đoạn "baola"(vast) và "sâu sắc"(profound) của phương pháp thiền định điđến sự giác ngộ tối cao. Mặc dù cuốn sách không được quan tâm nhiều ở Tây Tạng,nhưng nó vẫn có một giá trị rất lớn và Đức Giáo hòang vẫn luôn cố gắng truyềnbá cuốn sách đó trên tòan thế giới.

Cuốn sách thứ hai, cuốn"37 bài luyện tập của những vị Bồ Tát" là sự mô tả vắn tắt rỏ ràng vềphương pháp rèn luyện lối sống một cuộc đời vì mọi người. Tác giã cuốn sách đó,Togmay Sangpo, khuyên chúng ta nên nhận thức được rằng cuộc sống và lòng tincủa chúng ta dựa trên nền tảng là đồng loại. Togmay Sangpo sống một cuộc đờikhắc khổ của môït nhà tu, ông không bao giờ vị kỷ và luôn hy sinh bản thân vìmọi người xung quanh qua việc ban bố lòng từ bi của mình.

Qua những buổi nóichuyện này, dịch giả Geshe Thubten Jinpa đã diễn tả một cách khâm phục sự tinhtế của môn triết học Phật giáo được giảng giải bởi Đức Giáo hoàng và đồng thờitruyền tải lòng yêu thương luôn hiện hữu trong từng bài giãng của Đức Giáohoàng.

Mong rằng cuốn sách nàysẽ giúp cho những ai đó đọc nó sẽ tìm được niềm hạnh phúc và cũng mong rằngniềm hạnh phúc đó sẽ lan tỏa đến tất cả mọi người để trái tim của mọi ngườingày một rộng mở.

NICHOLAS VREELAND

Source: thuvienhoasen

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2025(Xem: 4670)
Khi nào bạn thấy tâm và cảnh vốn là không, bạn sẽ thấy bất kỳ nơi nào cũng là Niết Bản. Lời dạy đó là từ một bài thơ của Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) khi ngài dạy ý chỉ Thiền tông cho vua Trần Nhân Tông. Lời dạy đó cũng là đúc kết từ nhiều Kinh khác nhau do Đức Phật truyền dạy.
10/02/2025(Xem: 7841)
Trong tạng kinh Nikàya (Pali), cụ thể là Kinh Tương Ưng Bộ Samyutta Nikàya, Tương Ưng Nhân Duyên, những gì Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chứng ngộ, thấy biết như thật tương ưng với những gì chư Phật quá khứ đã chứng ngộ và thấy biết như vậy. Thế Tôn gọi đó là TÙY TRÍ (Tùy trí chư Phật quá khứ: thấy biết giống như chư Phật quá khứ đã thấy, đã chứng ngộ). Đấng Thiện Thệ cho rằng những ai Tùy Trí như vậy sẽ có Pháp Trí (tức là Pháp Trí như vậy do Tùy Trí Chư Như Lai mà có, nên tràn đầy ánh quang minh hay Pháp Quang).
06/02/2025(Xem: 10220)
XUÂN VÀ CON ĐƯỜNG CỦA BỒ TÁT ĐI Pháp thoại Hòa thượng Thích Thái Hòa giảng cho Phật tử ngày mùng 2 tết Giáp Thìn, tại Tịnh Nhân Thiền đường, Tự viện Phước Duyên - Huế Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật.
05/02/2025(Xem: 8001)
Trời xuân ấm vạn nẻo đường Đất xuân ấm giữa vô thường thế gian; Non xuân đứng giữa núi ngàn, Nước xuân chảy giữa muôn vàn điệu ru;
05/02/2025(Xem: 6813)
Trong cuộc sống chúng ta thường lẫn lộn giữa thực tế và ước mơ, thế nhưng ước mơ cũng có thể giúp chúng ta nhìn vào thực tế một cách thực tế hơn, hoặc ngược lại thì thực tế đôi khi cũng có thể khơi động và làm sống lại các ước mơ của mình trong quá khứ. Câu chuyện mà tôi sắp thuật lại dưới đây nêu lên các ước mơ của một người mẹ hiện lên với mình như một sự thực, và các ước mơ của một người con mãi mãi vẫn là ước mơ.
05/02/2025(Xem: 7978)
NẾN VU LAN THẮP SÁNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG Trong truyền thống Phật giáo, lễ Vu lan là ngọn nến hiếu hạnh thắp sáng giữa đời thường để cho ai có mắt thì được thấy, có trí thì được sáng tỏ, có tâm thì cảm và có tình, thì tình thêm sáng đẹp, rộng và sâu.
05/02/2025(Xem: 9200)
CÁC PHÂN KHOA PHẬT GIÁO Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu.
04/02/2025(Xem: 4687)
Có một bài thơ khó hiểu trong Thiền Tông. Bài thơ có tên là Ngũ Vị, có khi gọi là Động Sơn Ngũ Vị, và có khi gọi là Ngũ Vị Quân Thần. Bài thơ khó hiểu phần vì dùng nhiều chữ xưa cổ, nhiều hình ảnh thi vị, và vì chỉ cho một số chặng đường tu học trong Thiền Tông. Bài này sẽ tham khảo nhiều giải thích để làm sáng tỏ bài thơ này.
03/02/2025(Xem: 5955)
Đầu Xuân nghe nhạc phẩm "Xuân nầy con không về" do con mình từ xa gửi về, gợi nhớ lại những năm tháng lao lý. Lần đầu tiên trong đời vào nằm trong nhà lao ở vùng hiu quạnh nơi rừng xanh xa lạ. Một cuộc đời tù mà không có tội trong buổi giao thời của đất nước sang trang. 30 năm làm tu sĩ, trãi qua nhiều Tỉnh thành, từ thôn quê đến phố thị, qua bao mùa Xuân trên đất nước chiến chinh, cũng bao lần nghe nhạc Xuân, kể cả nhạc phẩm "Xuân nầy con không về", thế mà lòng không khỏi xúc động khi nghe văng vẳng giữa đêm khuya, từ nhà dân, có lẽ xa lắm, vọng lại.