Lời Tựa

22/11/201014:26(Xem: 12856)
Lời Tựa

ĐỨC ĐẠT-LAI LẠT-MA
Hoang Phong dịch
GIÁO HUẤN CỦA ĐỨCĐẠT-LAI LẠT-MA
Nhà xuất bản Phương Đông

Lời Tựa
(của người dịch sangtiếng Việt)

Quyểnsách này gồm có hai phần đề cập đến hai chủ đề thoạt nhìn khá độc lập với nhau.Trong phần thứ nhất, Đức Đạt-Lai Lạt-Ma giảng về Bồ-đề tâm và cách tu tập củanhững người Bồ-tát. Trong phần thứ hai, Ngài giảng về Triết lý của Trung Đạo.

Năm 1974, hơn một trămngàn người Tây tạng sống rải rác tại nhiều nơi như Ấn độ, Népal, Sikkim,Bhutan…và cả ở Âu châu và Mỹ châu đã đi hành hương tại Bô-đề Đạo-tràng (BodhGaya), nơi Phật đắc Đạo, và tụ họp với nhau để nghe Đức Đạt-Lai Lạt-Ma thuyếtgiảng. Cũng có vài người Tây phương đến nghe, trong số này có hai người Pháp làGeorges Dreyfus và Anne Andermet. Họ được Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cho phép thu băngsuốt ba ngày thuyết giảng của Ngài. Sau đó họ đã chuyển ngữ sang tiếng Pháp vớisư giúp sức chủ yếu của Gonsar Tulku. Những lời thuyết giảng này được gom lạitrong phần một của sách và sách đã được xuất bản lần đầu năm 1976.

Chủ đề của phần một làBồ-đề tâm, tức Bodhichitta. Nghĩa từ chương của chữ Bodhichitta là Tâm linhTỉnh thức hay Tâm linh Giác ngộ, tức là một tâm linh mang quyết tâm trở thànhPhật trong mục đích cứu giúp tất cả chúng sinh thoát ra khỏi thể dạng luân hồi,đạt đến Giác ngộ và Giải thoát toàn vẹn.

Bài thuyết giảng của ĐứcĐạt-Lai Lạt-Ma dựa vào một văn bản do một vị Lạt-Ma Tây tạng, tên là Thogs-medbzang-po trước tác, gồm 37 tiết thơ. Vị Lạt-Ma Thogs-med bzang-po sống trêntrăm tuổi (1245-1369), đã sáng tác văn bản này khi ẩn cư trong một hang độngtrên Hy-Mã-Lạp-Sơn, gần thành phố dNgul-chuhirinchen.

Phần thứ hai của sách làmột bài viết của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma về một chủ đề chính yếu của trường pháiTrung đạo (Madyamika), phản ảnh tư tưởng của Bồ-tát Long Thọ (Nâgârjuna), mộtđại luận sư Phật giao sống vào cuối thế kỷ thứ I sang thế kỷ thứ II. Những tưtưởng của Ngài Long Thọ sau đó được Ngài Nguyệt Xứng (Chandrakìrti) triển khaivà luận giải qua truyền thống của học phái Cụ-duyên tông (Prasangika). Chủ đềnày giải thích về Tánh không của mọi vật thể và mọi hiện tượng, cho thấy chúngkhông phải không hiện hữu nhưng cũng không hề hiện hữu một cách tự tại, trườngtồn và bất biến. Đây là một trong những luận thuyết then chốt, đặc thù và caothâm nhất trong Phật giáo. Phần thứ hai của sách khá nặng về lý thuyết và Luậnlý học, có vẽ như độc lập với phần thứ nhất, vì phần thứ nhất có tính cách thựctiễn hơn, nhấn mạnh nhiều hơn về tu tập tâm linh và thực hành. Nhưng đúng raphần thứ hai trình bày một giai đoạn tiếp nối hợp lý và liên tục với phần thứnhất trên con đường tu tập, đó là một cấp bậc tối thượng đòi hỏi nhiều đến phầntrí tuệ và suy tư, tức là thiền định.

Ta không sinh ra là mộtngười phật giáo, ta sinh ra là một chúng sinh như tất cả những chúng sinh khác.Phật cũng từng là một chúng sinh như ta. Ta là một chúng sinh trước đã và sauđó ta có thể trở thành một người phật giáo. Ta không trở thành một người phậtgiáo bằng sự ép buộc hay thói quen của gia đình, bằng truyền thống của một dântộc, bằng phép lạ hay nghi lễ, bằng sự mua chuộc hay dụ dỗ, bằng ân đức củangười khác ban cho ta. Ta cũng không trở thành một người phật giáo bằng lời nóihay bằng một sự tự nguyện đơn giản. Ta trở thành một người phật giáo bằng quyếttâm và cố gắng liên tục để biến cải chính tâm linh của ta. Ta trở thànhngười phật giáo bằng tu tập và suy tư lâu dài không ngưng nghỉ. Ta trở thànhngười phật giáo khi ta đã ý thức được ý nghĩa sự sống của chính ta là gì, bảnchất của thế giới này là gì và trọng trách của chính ta đối với tất cả nhữngchúng sinh khác là gì.

Quyển sách nhỏ bé này,ghi chép lại những lời khuyên thiết thực, thâm sâu và trong sáng của ĐứcĐạt-Lai Lạt-Ma, chỉ cho ta cách tu tập giúp biến cải tâm linh ta, biến ta thànhmột con người cao cả hơn, đạt đuợc nhiều khả năng hơn, trong mục đích giúp đỡtất cả chúng sinh để cùng nhau bước vào con đường Giác ngộ và Giải thoát.

Tôi xin chân thành cảmtạ Văn phòng Đức Đạt-Lai Lạt-Ma và nhà xuất bản Albin Michel đã cho phép tôidịch quyển sách này. Tôi cầu mong rằng công việc dịch thuật của tôi, tuy vụngvề, cũng có thể góp công một phần nhỏ bé nào đó, cùng với cố gắng chung của tấtcả những người khác nữa, trong ước vọng đem đến một xã hội nói riêng, và mộtthế giới nói chung, ít khổ đau hơn, ít hận thù hơn, nhưng an bình, hạnh phúc vàcao cả hơn.

Hoang Phong

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/10/2011(Xem: 12617)
Danh từ Hạnh Phúc cũng như Thực Phẩm, có nhiều nghĩa khác nhau. Có thức ăn cho kẻ nghèo, cho người trung lưu và hạng người giàu sang. Có những loại thức ăn quốc tế, sản xuất từ các vùng khác nhau, tất cả đều bồi dưỡng cho cơ thể. Hạnh Phúc cũng thế. Tùy theo giai cấp và sự hiểu biết mà con người có cách nhìn khác nhau về hạnh phúc. Hạng người trí thức có quan điểm hạnh phúc khác với những người bình dân sống cuộc đời đơn giản, nhưng các bậc Giác Ngộ mới đạt được Hạnh Phúc Tối Thượng.
20/10/2011(Xem: 17408)
Bên nắng hồng xưa cũ Màu lam phủ chân đồi đời người bao suơng gió niềm tin vẫn lên ngôi Gió thức giấc sáng nay sưởi ấm lòng ẩn sĩ bên vô ngã vô thường an nhiên cùng chánh pháp ..
20/10/2011(Xem: 13205)
Chúng ta tự khẳng định là con của Đức Phật, nhưng chưa thấy Phật thì phải đi tìm Phật, như đi tìm người cha mà mình bị thất lạc; đó là quá trình tu hành của giai đoạn một. Và đến giai đoạn hai, khi tìm được Phật là thấy Phật rồi, chúng ta mới thật sự học Phật, làm theo Phật, là giai đoạn ba.
11/10/2011(Xem: 13396)
Cho dù bạn chỉ có một giờ để sống, một phút để sống, mục đíchcủa cuộc đời vẫn là sống vì sự lợi lạc của người khác, với một trái timtốt lành, với lòng bi mẫn đối với người khác.
09/10/2011(Xem: 10686)
Tôi thích lang thang trên hè phố để ngắm nhìn những em bé đang tung tăng cắp sách đến trường. Những khu chợ đông vui mà trật tự, đường phố thì khang trang và sạch sẽ.
06/10/2011(Xem: 13308)
Ở đây một trong những người thầy vĩ đại của thời đại chúng ta đặc biệt nói chuyện cùng những người trẻ và trình bày một triết lý thực tế của sự giáo dục không liên quan gì đến những cống hiến hiện nay trong hầu hết những trường học và đại học của chúng ta. Krishnamurti phơi bày những gốc rễ của sợ hãi và loại bỏ những thói quen được thiết lập sâu thẳm của truyền thống, mô phỏng, và thành kiến.
04/10/2011(Xem: 12839)
Tiếp theo, chúng ta nói về sự bố thí. Phía trước tôi đã nói đến có một lần tôi ở trường học, hôm khánh thành toà lầu Học viện Thương nghiệp, tôi cũng tham gia buổi lễ khai mạc. Trong buổi lễ, nhà trường có mời một vị giáo thọ người Mỹ nổi tiếng của Học viện Thương nghiệp đến diễn giảng. Sau khi tôi nghe rồi, tôi có cảm khái rất sâu sắc. Bởi vì ngay lúc đó hiệu trưởng đang ngồi bên cạnh tôi, chúng tôi rất thân quen nhau, tôi liền cảm khái nói với hiểu trưởng, tôi cười đùa mà nói với ông rằng giáo trình của Học viện Thương nghiệp này tôi cũng có thể dạy.
02/10/2011(Xem: 18340)
Hôm nay chúng tôi giảng về Sự tương quan giữa Bát-nhã và Thiền tông. Đề tài này hơi cao, quí vị chịu khó lắng nghe kỹ mới thấy giá trị của đạo Phật. CácThiền viện của chúng tôi trước khi sám hối phải tụng một biến Bát-nhã Tâm Kinh. Sau khi xả thiền cũng tụng một biến Bát-nhã Tâm Kinh. Nhiều người hỏi tại sao không tụng kinh khác mà lại tụng Bát-nhã Tâm Kinh. Bởi vì Bát-nhã Tâm Kinh là một bài kinh rất thiết yếu cho người tu Phật, chẳng những tu Thiền mà tu Tịnh, tu Mật đều quí cả.
25/09/2011(Xem: 15808)
Chúng ta không cần đi đâu xa, ở ngay tại nhà nhìn qua trang báo hằng ngày cũng đủ cho chúng ta thấy những tệ nạn xã hội hiện nay như thế nào. Rượu chè, cướp bóc, cờ bạc, mãi dâm... xảy ra thường xuyên, nếu ta có thời giờ bỏ ra vài năm hay cả cuộc đời để thống kênhững sự kiện ấy cũng không thể nào hết được, vì thế mà các nhà báo chí không thất nghiệp, nay tường thuật tệ nạn này, mai báo cáo tệ hại khác...
25/09/2011(Xem: 18926)
Dịch giả trước đây đã nêu lên chủ đề này qua một bài viết ngắn vàongày 7 tháng 8 năm 2010, mang tựa đề là "CâuChuyện về Barlaam và Joasaph: hay một sự trùng hợp lạ lùng giữa các tôngiáo",(có thể xem bài này trên các mạng Thư Viện Hoa Sen, Quảng Đức...). Thế nhưng quả là một sự ngạc nhiên kỳ thú là khilùng lại các tài liệu cũ thì tình cờ mới thấy rằng trước đó gần một năm Viện ĐạiHọc Phật Giáo Âu Châu (UBE : Université Bouddhhique Européenne) cũng đã đưa vấnđề này lên mạng trong số phát hành ngày 1 tháng 12 năm 2009, tức là vào dịp nhữngngày lễ cuối năm ở Âu Châu. Bài viết này có thể xem như là một bài khảo cứu nêulên một số dữ kiện để chúng ta cùng suy tư về một vài khía cạnh nào đó của tôngiáo nói chung.