9. Đạo lý luân hồi

17/11/201017:12(Xem: 11915)
9. Đạo lý luân hồi


ÐẠOLÝ LUÂN HỒI

(Lược dịchKinh Kiến Chánh)

Một hôm Phậtở tại Tinh xá Kỳ Hoàn nơi thành La Duyệt Kỳ. Trong lúc gầnngọ, Ngài cùng năm trăm vị Tỷ-kheo, một ngàn vị Bồ-tátvà Ưu- bà-tắc, bưng đồ cúng dường đi ra ngoài thành LaDuyệt Kỳ, bỗng gặp cây đại thọ tên là Cau Hương, cánhlá xum xuê, cây to gốc lớn, hoa trái tươi tốt đỏ hồng,chứa chất một mùi vị thơm ngọt dưới gốc cây bằng phẳng.Phật muốn dừng lại đây lót lá mà ngồi. Hàng đệ tửtùy tùng vâng theo ý Phật, sửa chỗ cho Phật ngồi, rồi ainấy cũng đều ngồi quanh Ngài.

Tronghàng đệ tử, có một vịTỷ-kheo tên là Kiến Chánh, người mới nhập đạo tu hành,nhân trong tâm có chỗ nghi hoặc: "Phật thường nói có đờisau nhưng từ loài vật cho đến loài người, khi chết rồichưa từng ai trở lại báo tin cho biết việc ấy như thếnào cả?" Ông liền đem điều ấy bạch Phật, Phật nhân đấybảo cho các đệ tử rõ, bằng những điều chứng minh, thídụ như sau:

- Gốc đại thọ này, vốn từ mộthột giống và nhờ các trợ duyên: đất, nước, gió, lửamà nó được to lớn, tàng cây có thể che một số ngườinhư thế này. Truy nguyên thời kỳ hột giống thì không thấycó nhánh, lá, hoa, trái gì cả, nhưng gặp đủ nhân duyên tứđại, nó nứt mầm, nẩy nhánh, sanh hoa, kết trái dần dầnthành một cây to, tàng che một khoảnh đất rộng. Ban đầunó chỉ gọi là hột, hột sinh mầm, mầm sinh nhánh, nhánhsinh lá, lá sinh hoa, hoa sinh trái, trải qua nhiều giai đoạn,thay đổi triển chuyển mới thành cây đại thọ, đối vớihột giống không phải một mà chẳng phải khác, có danh nhưngchẳng phải thường danh. Nó đã trở thành cây đại thọ.Có thể nhóm tất cả hoa, trái, nhánh, lá, cành, gốc kia lạilàm hột giống khi xưa được không?

- Không thể được - Lời các đệtử đáp - Chúng đã biến chuyển thì không thể trở lạiđược nữa. Một ngày một mục nát, hột giống trở thànhmầm, nhánh v.v... Cứ vậy càng sanh càng đủ, tuy không bịtiêu mất, nhưng cũng không thể trở lại hột giống như xưa.

- Sanh tử cũng thế, thần thứclà pháp duyên khởi, pháp ấy là si (vô minh), do vô minh sanhtham ái. Vô minh in như hạt giống. Hột giống tuy nhỏ mà trưởngthành cây đại thọ, vô minh tuy ẩn vì mà gây thành nhiềuhiện tượng nhân duyên sai khác. Các hiện tượng nhân duyênđều do thức tâm xuất hiện. Từ vô minh sanh ra thọ, thọsanh ái, ái sanh thủ, thủ sanh hữu, hữu sanh sanh, sanh sanhlão tử, hợp lại là Mười hai nhân duyên, làm bản thể chothân này. Ðã có thân thì có ngày già, chết. Khi ấy thầnthức tùy theo hạnh nghiệp tắt dần, mà sanh thành một xácthân khác, cũng có cha mẹ, cũng thọ hình thể, cũng sanh lụctình, cũng khởi tập nhiễm cũng chịu khổ vui, cùng theo phongtục, nhưng không thứ nào trở lui như cũ, thì chẳng làm saobiết được quá khứ. Người ta chỉ một mặt theo kiến thứcmới, bảo là thực đó, là thường còn, rồi cố chấp theonhững điều tri kiến đó, nên không biết rằng: đời trướcvà đời sau do thần thức chuyển đi theo hạnh nghiệp mà pháthiện ra vậy.

Thần thức đã chuyển đi, lạinhờ có cha mẹ, làm trợ duyên sanh ra hình thể mới, bị khuônkhổ theo lục tình, tập nhiễm, khổ vui, phong tục, không thểtrở lại đời cũ, cũng không thể trở lại thân hình cũtập quán cũ, kiến thức cũ, như cây đại thọ không thểtrở lui hột giống của ngày trước.

Sau khi nghe Phật dạy, Tỷ-kheo KiếnChánh đứng dậy, quỳ thẳng bạch Phật: "Ngu ý của đệtử vẫn chưa trừ giải. Giờ đây chính là lúc đệ tử tỏbày chỗ ngu si, ngưỡng mong đức Thế Tôn thương xót chỉdạy cho đệ tử. Ðệ tử từ khi nhỏ đến giờ gặp ngườichết không phải là ít: hoặc cha mẹ, anh em, vợ chồng, nộingoại, hoặc bằng hữu đang thương yêu nhau, hoặc kẻ oánthù đang ghen ghét nhau mà sau khi chết, thần thức họ vẫnkhông trở lại gặp mặt trả lời cho biết ai sướng ai khổthế nào cả. Tại sao vậy? Thần thức bị điều gì làm cáchngại mà họ không trở lại hiện báo cho người sống biết?Mong đức Thế Tôn giải bày phân biệt để cho chúng đệtử đoạn trừ nghi kiến, sớm thấy lẽ thật".

- Này Tỷ-kheo! Thần thức kia khônghình trạng khi chuyển đi thì tùy theo hạnh nghiệp mà pháthiện. Nếu người ở đời làm phước, thần thức phướcđức chuyển sang đời khác, cũng còn không thể trở lạihiện báo cho biết được, huống chi là kẻ hung ác. Vì sao?Vì như nhà kỹ sư nấu đá cho chảy để tìm thiếc, khi đãthành thiếc rồi lại đúc làm các khí cụ, những khí cụđó có thể khiến nó trở lại đá được không?

- Thưa không.

- Thần thức di chuyển, ở tạithân trung ấm, ví như đá đã lọc thành thiếc: từ trung ấmthay đổi, thọ sanh thân khác, như thiết đã đúc thành khícụ. Hình thể đã thay đổi tiêu ma, không trở lại thân cũđược.

Những ai tu hành năm điều thiện(năm giới) họ sẽ được bẩm thọ thân người, họ sẽcó cha mẹ, và bị sáu thứ ràng buộc:

1. Ở tại trung ấm, khôngthể trở lại kiếp xưa.
2. Bị bó buộc trong bào thai.
3. Khi sơ sanh bị ép bức đau đớnquên hết dĩ vãng.
4. Rớt xuống đất, các kiến thứctrước đều mất, sanh ra kiến thức mới.
5. Sanh ra rồi liền tham trướcvật dục, vì tham trước nên kiến thức cũ bị gián đoạn.
6. Lần lần khôn lớn, tập theokiến thức mới, chứ không nhớ lại kiến thức xưa.
- Các đệ tử: Ví như người kháchbuôn, đi khắp bốn phương, gặp đủ điều vui khổ. Khi nhớnhững điều ở một quận ấp về phương Ðông, thì họ khôngcòn nhớ gì về ba phương kia nữa. Trong đường sanh tử cũngvậy. Trong đời này tạo tác hạnh nghiệp rồi sanh qua đờikhác. Khi đã thọ thân khác, liền sanh kiến thức mới, chonên kiến thức cũ không phát hiện ra.

Bởi sáu việc ấy chằn trói ngănngại, nên không biết lại đời cũ và báo tin cho ai.

- Hoặc như người thợ gốm, nungđất làm đồ, do sức lửa đốt, miếng đất trở thành tấmngói, ta có thể khiến tấm ngói ấy trở lại cục đất đượckhông?

- Thưa, không thể được.

- Hoặc như một cây đại thọ bịngười ta đốn xuống, cưa xẻ, làm thành trăm thứ đồ dùng.Nếu có người muốn nhóm góp những đồ vụn vặt và cáctấm gỗ đã bị cưa, làm lại cây đại thọ như trước đượcchăng?

- Thưa, không được.

- Hoặc như người thợ nấu cátthành ra sắc hồng, rồi lại thành sắc trằng mà hóa ra nhưnước. Ta có thể khiến sắc hồng ấy trở lại cát đượckhông?

- Thưa, không được.

- Sanh tử cũng như thế, ngườichưa có đạo ý chưa có đạo nhãn, khi thân chết, thần thứcbiến hóa theo hạnh nghiệp, thọ sanh thân khác, trong nhữngđời khác, họ bị bưng bít trong bào thai, trong kiến thức,trong tập tánh mới rồi, thì họ không thể nào biết lạiđời trước được.

Hoặc như nước đựng trong hìnhtròn, thời nước thành tròn, đổ sang đồ vuông thời nướclại thành vuông. Tùy theo đồ đựng, mà nước phải thay hìnhđổi dạng, tùy theo tướng trạng lớn nhỏ, tròn vuông. Sanhtử cũng như thế. Thức tâm vốn không có hình thể nhấtđịnh, chỉ tùy theo hành vi thiện ác mà lãnh thọ báo thân.Có trắng, đen, dài, ngắn, khổ, vui, lành, dữ, đều là sựbiến đổi hiện hành theo hạnh nghiệp cả. Như tâm thứccủa chúng ta khi ở đời đã gây điều phi pháp, nên bị đọalàm súc sanh, mất tự do trong khổ sở, làm sao biết lại đờitrước mà báo tin cho ai hay.

Hoặc như con sùng, sinh ở trong đất,không kêu, không có cánh, nhưng đúng thời tiết nó hóa thànhcon ve, ở trên cây kêu suốt ngày không ngớt. Ta có thể bảocon ve ấy trở lại với thân hình con sùng đặng báo tin chocác con khác ở trong đất biết được không?

- Thưa không được. Con sùng đãbiến đổi, rời âm để sống trong dương khí, thân hình thayđổi dần cho đến ngày chết đi, hoặc bị chim chóc bắtăn thịt, chứ không thể trở lại thân sùng được.

- Sanh tử cũng vậy. Thân này chếtrồi, thần thức di chuyển, thọ sanh thân mới, bị ngũ ấmngăn che, nào kiến thức, nào tập tánh, đều đổi mới trongmột hoàn cảnh khác, cho đến ngày tiêu mòn già chết, chứkhông thể trở lại thân hình cũ với kiến thức cũ, báotin cho ta biết.

Hoặc như miếng thịt sống, đểlâu ngày hôi hám hóa sanh trùng giòi. Muốn nó trở lại thànhmiếng thịt tươi được không?

- Thưa, không được.

- Sanh tử cũng vậy. Người thếgian, tâm nghĩ ác, miệng nói ác, thân làm ác, khi họ chết,thần thức di chuyển, đọa làm thân địa ngục, súc sanh,ở cảnh giới mới lạ, sự thấy biết khác với ngày trước,lại bị lưới, tội buộc ràng, không biết được ngày xưa,nên cũng không trở lại báo tin cho ta hay được.

- Hoặc như đêm tối không trăng,mọi vật ở trong hắc ám. Giá như có người trong trăm ngànvạn người xem mọi vật trong đêm tối ấy, họ có thể biếtđược màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng không?

- Dù ức triệu người xem trong đêmtối, cũng chẳng thấy được gì, huống chi là biện biệtnăm màu sắc.

- Nếu có người cầm đuốc soisáng, bảo cho họ xem, họ có thể thấy được không?

- Có thể thấy được.

– Nếu có người ngu không cầmđuốc, đi vào chỗ tối, càng đi càng xa, càng tối, khi ấyhọ muốn thấy năm sắc được không?

– Người ngu đã xây lưng vớiánh sáng mà đi vào chỗ tối, họ đi xa không bao giờ thấymàu sắc được cả.

- Các đệ tử ! Chúng sanh ở trongđường sanh tử tối tăm cũng như thế. Từ loài người chođến loài vật, hễ đã mang thân hình, ngu si mờ ám, khôngcó đạo hạnh, không hiểu được nguồn gốc thân tâm, chưacó tuệ nhãn mà vội mong biết đến thần thức qua lại thọsanh trong đường sanh tử, lui về báo tin chẳng khác nào ởtrong đêm tối muốn thấy năm sắc. Trái lại, nếu biết họckinh trì giới, tu hành 37 món trợ đạo Bồ-đề, giữ gìntâm ý thanh tịnh, là họ như người cầm đuốc sáng thấyrõ năm sắc. Người nương theo giáo pháp đức Phật, có thểbiết đường sanh tử và cảnh giới thiện ác mà thần thứcđã qua lại. Ngoài ra những người không thấu rõ thân tâm,ngược bỏ kinh giới, theo dòng trần tục, tự ý buông lung,đoạn diệt thật pháp, lòng không tin tưởng thực hành Phậtpháp, kẻ ấy như người vác đuốc đi vào chỗ tối, càngđi càng mù mờ không trông thấy gì cả.

- Các đệ tử ! Các Ông chớ thuậntheo tâm ý ngu si, kiếp phược mà nghi ngờ đạo lý chân chínhthanh tịnh. Nếu thuận theo tâm ý ngu si, các người khó tránhkhỏi cảnh giới tối tăm, đọa đày thống khổ. Ta đã cóý dẫn dụ giải bày rành rẽ, vậy các Ông hãy siêng năngphụng hành, đừng bao giờ quên.

- Các đệ tử! Người đời chỉdùng mắt thịt mà thấy những việc trong hiện tại, nhưngkhông thể thấy trước đây mình từ đâu đến, và sau khigià chết, bước sang đời sau, thọ một thân hình khác cũngkhông biết lại những việc ngày nay. Vì sao? Vì mỗi lầnsống chết, thần thức chuyển dịch theo 12 Nhân duyên mà trong12 Nhân duyên, ngu si là chủ yếu mà tối tăm, nên một lầnthay đổi khó biết lại việc cũ. Như đem tấm vải trắngnhuộm thành các màu xanh, vàng, đỏ, tím, tấm vải đã bịnhuộm không thể trở lại như cũ được. Sanh tử chuyểndịch cũng như thế. Thức tâm không có tánh thể thường nhật,nó bị nhuộm theo hạnh nghiệp mà thay đổi mãi. Vả tâm ýcủa chúng sanh thường tưởng niệm mọi pháp trong một đờingười, lòng nghĩ muốn về những điều lành dữ báo ứngrất nhiều, hễ các niệm mới sanh thì niệm cũ diệt, màtrong đường sanh tử chỉ ngu si là thường hơn cả. Ai muốnhiểu nguồn gốc sanh tử qua lại, hãy cố gắng tu luyện thântâm, thâm nhập thanh tịnh, suy nghĩ nguồn gốc mọi pháp, thìcó thể khai ngộ như thức giấc ngủ.

- Các đệ tử! Thần thức bị điềusi ám trong việc thiện ác, nên hễ chết rồi lại sanh vớinhững thân hình sai khác. Không hạnh nghiệp thiện ác là khôngthọ sanh, như lửa gặp củi thì còn, củi cháy hết thì không;ý thức không thành vì thiện ác thì cũng không còn có hìnhthức gì vậy.

- Hoặc như gương mở không thểsoi thấy gì được. Bức gương thức tâm bị hỗn trượcngăn che, chuyển di sanh tử, đầy dẫy thảm khốc sợ hãi,và bị dắt dẫn theo sự họa phúc tai ương cũng vậy, chẳngsoi thấy việc trong đời cũ. Như ao nước đục, dẫu có cátrạnh trong đó, vẫn không làm sao trông thấy. Ở trong sanhtử hỗn loạn, bị mọi điều ưu tư bưng bít nên hễ mộtlần chuyển sang kiểu khác, là quên mất đời cũ. Như ngườinhắm mắt đi trong đêm tối hoàn toàn chẳng trông thấy gì.Người đi trong đêm tối sanh tử trôi theo dòng họa phúc,phải cam chịu mừng vui, khổ não, không thể biết lại việccũ trong kiếp trước.

- Các đệ tử! Ta lấy tuệ nhãnthanh tịnh soi thấy một cách rõ ràng, hết thảy chúng sinhqua lại sanh tử trong vòng ba cõi, khác nào nhìn sợi chỉ tronghột ngọc thủy tinh, lưu ly, xanh vàng đều trông thấy rõ.Và như nước trong, có thể nhìn thâu đáy tất nhiên thấyrõ các loài thủy tộc trong ấy. Phật dạy chúng sanh sốngchết trong năm đường, như người đứng trên cầu lớn, thấyrõ tất cả hành khách qua lại trên cầu. Hoặc như đứngtrên núi cao, nhìn thấy cả bốn bề xa gần, Phật ý cao viễn,Ngài thấy mọi loài chúng sanh tử cũng vậy.

Các ông nếu tùy theo lời chỉ dạycủa Như Lai, thì biết rõ sanh tử trong muôn ngàn kiếp. Thựchành 37 pháp trọng yếu là: 4 món Niệm xứ, 4 món Chánh cần,4 món Thần túc, 5 căn, 5 lực, 7 món Giác ý, 8 món Chánh đạo,để trừ bỏ sự nhơ xấu nơi tự tâm, diệt trừ ba độctham, sân, si, cắt đứt mối nghi ngờ, khai hóa trí thức thanhtịnh, như chư Phật, là có thể biết được việc quá khứvị lai.

- Các đệ tử! Người đời làmnhững điều thiện ác, chết rồi đều có sự báo đáp lạicả. Nhưng không ai biết được là vì chưa có ba thứ tịnhnhãn. Bị ngăn ngại theo lục căn, nhìn với con mắt thịt,cứ làm theo những việc xấu xa ô trược, đắm đuối trongchỗ ngu si, chuyển hóa theo dòng sanh tử, bị xác thân chướngngại, nên rời việc cũ xây việc mới, không thể biết cósự báo đáp tùy theo hạnh nghiệp ấy. Chứ ở đời, có sựthọ phước, thọ ương hoặc tương lân, tương ố lẫn nhau,đó chính là sự thật, chứng nghiệm việc báo tin của hạnhnghiệp quá khứ vậy.

Người đời bị trói buộc trongsự nghi ngờ, sanh ra từ chỗ ngu si, không chút hành vi thanhtịnh, mà muốn biết việc đời trước cùng những hiệu quảbáo ứng, họ khác nào kẻ không tay muốn viết, không mắtmuốn trông. Vì cớ đó Phật ra đời, giảng bày kinh đạo,mở mang tâm ý mọi người. Ai là kẻ muốn biết rõ và cảihoán nhân quả hưởng thọ của mình trong đường sanh tử,hãy tùy theo Phật giáo, thực hành đạo pháp, trau dồi trítuệ, điều chỉnh tâm ý, luyện tập thiền quán, thì đềucó hiệu quả được cả.

- Các đệ tử! Thần thức có danhkhông hình, tùy hành vi thiện ác và bốn món tứ đại làmthể chất. Lúc mới sanh thân nhỏ, sau căn chưa đủ, kiếnthức hẹp hòi, hiểu biết cạn cợt, đến khi khôn lớn, đủcả sáu căn, thức tâm huân tập thêm những điều ái dục,càng ngày càng nhiều, cho đến ngày suy yếu, bốn đại tiêumòn, thức tâm không còn minh mẫn, sáu tình giảm ít. Chỉtrong một đời hiện tại mà vô thường thay đổi, sau khônggiống trước, kiến thức khi trẻ như bị quên hết với tuổigià, huống chi nhiều đời cách biệt, thai ấm ngăn che, chưađược đạo ý, tà hạnh mê lầm, mà mong biết sau khi chếttrở lui báo tin. Mong biết việc trước như vậy, khác nàokẻ xâu kim trong đêm tối, tìm lửa trong nước mà thôi.

Vậy các đệ tử! Hãy siêng năngthực hành, kinh giới, thẩm tư nguồn gốc sanh tử: từ đâulại và sẽ về đâu? Nhân gì mà có sự qua lại? Duyên gìmà phải sanh tử? Suy xét cho kỹ tự tánh các pháp vô ngã,thì mọi việc điều nghi ngờ nhất thời tự giải.

Phật nói kinh này rồi, năm trămTỷ-kheo và Ưu bà tắc đều được kiến đạo, và các hàngBồ-tát đều được bất thối tam muội. Tất cả đứng dậy,nhiễu quanh Phật ba vòng, lễ Phật sát đất, lễ xong, theoPhật trở về tinh xá.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2015(Xem: 15339)
Tôi năm nay 24 tuổi, công việc ổn định và yêu một anh bạn đồng nghiệp, hai chúng tôi dự định ba tháng nữa sẽ làm lễ cưới (lễ hằng thuận) ở chùa. Vừa rồi, tôi đưa anh ấy ra Bắc, nơi chùa chị tôi xuất gia tu học để làm lễ quy y cho anh. Quy y xong, anh được nhà chùa cho tụng kinh, khi tụng xong thì chuyện bất ngờ xảy ra, chồng sắp cưới của tôi xin phép thầy xuất gia. Sự việc xảy ra quá nhanh khiến tôi hết sức bất ngờ, buồn vui lẫn lộn. Nếu anh ấy xuất gia được thì hủy lễ cưới luôn. Thầy bảo sẽ trợ duyên cho anh ấy ở chùa tập sự một năm mới được xuống tóc và gửi đi học. Bây giờ, ngoài việc niệm Bồ-tát Quan Thế Âm ra, tôi chẳng biết làm gì nữa.
31/03/2015(Xem: 15570)
Giới luật và Phẩm Hạnh Huynh Trưởng
31/03/2015(Xem: 25807)
Dianne Perry, (sau này được biết đến qua pháp danh Tây Tạng của cô là Tenzin Palmo) là một vị ni cô người Anh đầu tiên, đã ẩn cư thiền định suốt 12 năm trong một hang động cao 12.300 bộ trên dãy Hy Mã Lạp Sơn, cách ngăn khỏi thế giới trần tục bởi những rặng núi phủ đầy tuyết trắng quanh năm. Tenzin Palmo đã sống một mình và tu tập trong động tuyết này. Cô đã chạm trán với những thú rừng hoang dã, đã vượt qua những cơn lạnh khủng khiếp, những cái đói giết người, và những trận bão tuyết kinh hồn; cô tự trồng lấy thực phẩm và ngủ ngồi trong cái hộp gỗ rộng cỡ 3 bộ vuông (theo truyền thống Tây Tạng, các vị tu sĩ đều tọa thiền trong một cái hộp gỗ như vậy). Cô không bao giò ngủ nằm. Mục đích của Tenzin Palmo là chứng đạo trong hình tướng một người nữ.
29/03/2015(Xem: 28464)
Giảng về diệu lý Bát Nhã của Bộ Kinh Kim Cang là pháp môn bình đẳng. Chúng ta phần đông đều không hiểu cho nên đầu lại thêm đầu, tướng lại thủ tướng đem cái pháp bình đẳng biến thành không bình đẳng.
28/03/2015(Xem: 12449)
Thuyết pháp là hạnh cao quý của người hoằng pháp vì họ là sứ giả của Như Lai, mang ánh sáng của chánh pháp rải đều khắp nhân gian khiến cho muôn người được hưởng cam lồ vị - sống hạnh phúc, chết bình an, hưởng an lạc ở nhàn cảnh, hay giải thoát, niết bàn. Hiện nay, sinh hoạt thuyết pháp phát triển sôi nổi ở nhiều nơi trong nước và hải ngoại.
26/03/2015(Xem: 11335)
Từ khi lộ ánh trăng thiền Tri ân sâu nặng cơ duyên cuộc đời Vô ngôn sáng giữa muôn lời Dấn thân thế sự, chẳng rời Tánh Không. ---
23/03/2015(Xem: 15530)
Từ xa xưa đã có hiện tượng cư sĩ tham gia tu tập Thiền, Tịnh Độ và học tập nghiên cứu Phật Học; nhưng thời cổ đại, việc cư sĩ tại gia học Phật là hành vi tự phát riêng lẻ, không có tổ chức đoàn thể đại chúng cùng tu tập. Trong quá trình lịch sử phát triển của Phật giáo Trung Quốc, các cư sĩ có vai trò rất tích cực trong việc học và hoằng dương đạo Phật, trải qua nhiều thời đại đã xuất hiện không ít những vị cư sĩ có cống hiến lớn lao với đạo. Đến thời nhà Thanh, do mạng mạch truyền thừa bị gián đoạn do đó khiến Phật Giáo suy yếu. Sau đó có cư sĩ Dương Nhân San phát tâm gánh vác, vận động lập ra hình thức đoàn thể cư sĩ để phục hưng Phật giáo. Tiến hành các hoạt động kết tập, in ấn, phát hành kinh điển, mở trường lớp, nghiên cứu Phật giáo, bồi dưỡng nhân tài, cải cách hưng long Phật giáo, đó chính là thời kỳ đầu phát triển của Cư sĩ Phật giáo.
20/03/2015(Xem: 14988)
Nhà sư Alan Piercey là một tu sĩ Phật giáo làm việc tại bệnh viện ở Burnie và cũng từng tham gia bán chocolate để gây quỹ. Đối với những cư dân ở bờ biển Tây bắc Burnie (Tasmania, Úc), thầy được biết đến với nhiều tên gọi, nhưng cái tên phổ biến nhất được lấy từ một bộ phim hoạt hình nổi tiếng. “Pháp danh tôi là Shih Jingang” (phát âm là Cher Gin Gun) - thầy nói. “Thế nhưng hầu hết mọi người sống quanh bệnh viện khu vực Tây bắc tại Burnie này gọi tôi là Sifu (sư phụ).
19/03/2015(Xem: 12154)
Đây không phải là lần đầu tiên tôi được Thọ Bát, được làm “Ni Cô chải tóc bên dòng suối“ một ngày một đêm đâu các bạn ạ! Từ bao năm nay hễ chùa Linh Thứu có lên lịch trình Thọ Bát là có mặt tôi, cho dù ngày ấy tuyết phủ ngập chùa, hay mưa dầm giăng lối. Nhưng chẳng bao giờ tôi tu trọn vẹn được đầy đủ 24 giờ tinh khôi cả, cứ buổi cháo chiều vừa dùng xong tôi đã tìm đường ra xe về nhà để sáng mai lên chùa sớm cho kịp buổi công phu khuya. Hay nhiều khi không thể tham dự được tôi cũng cố lên chùa nghe cho được bài Pháp mới thật hả dạ. Tất cả cũng chỉ vì Gia Duyên còn ràng buộc như câu các Thầy truyền giới vẫn thường đọc trong những buổi Thọ Bát Quan Trai, nên sự thể mới như vậy mà thôi.
19/03/2015(Xem: 11038)
Những Nguyên Nhân Của Hành Động Nầy các Tỳ Kheo, có ba nguyên nhân bắt nguồn của hành động. Ba nguyên nhân nầy là ba nguyên nhân gì? Đó là: lòng tham lam, lòng thù hận, và sự si mê (tham, sân, si). [32] Một hành động khi làm với lòng tham lam, sinh ra từ lòng tham lam, gây ra bởi lòng tham lam, phát sinh ra từ lòng tham lam, sẽ chín muồi bất cứ nơi nào người nầy tái sinh; và bất cứ khi nào hành động chín muồi, người nầy nhận lấy kết quả của hành động, ở trong đời nầy, hoặc là trong đời sau, hoặc là trong những đời kế tiếp sau đó. [33]