Lễ hội Đức Phật đản sanh

09/04/201213:36(Xem: 16730)
Lễ hội Đức Phật đản sanh

Cứ đến mùa sen nở, báo hiệu một mùa Phật đản nữa lại về. Ngày Phật đản đã ăn sâu trong lòng của tất cả mọi người Phật tử, trở thành lễ hội trọng đại của Phật giáo. Nhiều hoạt động chào mừng sự kiện Đức Từ Phụ đản sanh được diễn ra: thiết lập lễ đài, vườn Lâm Tỳ Ni, diễu hành xe hoa, tổ chức các buổi thuyết giảng, tọa đàm về ý nghĩa Phật đản, triển lãm văn hóa nghệ thuật Phật giáo, các hoạt động từ thiện xã hội..., nhằm mang thông điệp từ bi cứu khổ của đạo Phật vào đời đã tạo nên không khí hân hoan, tưng bừng của mùa Lễ hội Đản sanh.

phuongcachdansanh-thichnugioihuong

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện giữa cõi đời không ngoài mục đích giải thoát khổ đau cho nhân loại. Từ địa vị thái tử cao quý, Ngài đã giã từ lạc thú trần gian đi tìm đạo giải thoát. Hơn 25 thế kỷ đi qua, hình ảnh tuyệt vời của Đức Thế Tôn vẫn chói sáng.

"Khó thay được làm người

Khó thay được sống còn

Khó thay nghe diệu pháp

Khó thay Phật ra đời".

(Pháp Cú 182)

Đây là bốn điều khó và hy hữu (hiếm có). Hy hữu nhất trong tất cả những điều hy hữu là: Phật ra đời, một sự kiện trọng đại, vị tằng hữu (chưa từng có). Kinh Tăng Chi Bộghi: "Một người, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một cách vi diệu. Người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A la hán Chánh đẳng giác". Sự xuất hiện của Ngài được gọi là vi diệu vì sự xuất hiện đó như ánh sáng mặt trời xua tan bóng đêm tăm tối, mang lại hạnh phúc, bình an cho vạn loại, ban cho chúng sanh một phương thuốc mầu nhiệm điều trị tâm bệnh, nỗi khổ trầm luân sinh tử.

"Khó gặp được Như Lai,

Không phải đâu cũng có.

Chỗ nào Phật đản sanh,

Nơi đó tất an lạc".

(Pháp Cú 193)

Chúng ta đang sống trong thời mạt pháp, tuy thân ba mươi hai tướng tốt đã hoại diệt nhưng Pháp thân của Như Lai vẫn không mất. Khi nào ngôi Tam bảo còn trụ nơi thế gian thì Đức Phật vẫn còn hiện hữu. Một khi chúng ta có sự tỉnh giác, tức là Phật đang ở trong ta. Một niệm tỉnh giác khởi lên, liền đó Phật đản sanh; một niệm vô minh tăm tối dấy khởi thì Phật nhập diệt. Nhân ý nghĩa sự kiện Đản sanh của Ngài mà nhắc ta luôn nhớ bản tâm Phật tánh hằng hữu trong mỗi chúng sinh. Kinh Kim Cang, Phật dạy:

"Nếu dùng sắc thấy Ta,

Dùng âm thanh cầu Ta,

Kẻ ấy hành đạo tà,

Không thể thấy Như Lai".

Như Lai không phải là nơi thân ba mươi hai tướng tốt hay diệu âm thuyết pháp, mà Như Lai là pháp thân tự tánh hằng hữu trong mỗi chúng ta. Tất cả chúng sanh đều có pháp thân thanh tịnh bất sanh bất diệt, do vô minh che lấp nên chẳng thể nhận ra. Người nào chạy theo âm thanh, sắc tướng bên ngoài mà cầu thì không thể thấy được pháp thân thường trụ của Như Lai.

Đức Phật là bậc có một không hai trong lịch sử nhân loại. Cuộc đời Ngài được kết tinh bởi những chất liệu của Chân - Thiện - Mỹ. Đức Phật đản sanh từ hông phải của hoàng hậu Maya, chân đi bảy bước có bảy hoa sen nâng gót, hào quang chiếu sáng khắp tam thiên đại thiên thế giới, chư Thiên trổi nhạc trời chúc tụng, rải hoa thơm cúng dường..., tạo nên một kỳ tích Đản sanh, nâng Đức Phật lên mức cao quý tột cùng, thiết nghĩ cũng chưa đủ để xưng tán hết công hạnh của Ngài. Là một vị Bồ tát Nhất sanh bổ xứ, Ngài xuất hiện nơi đời để mang lại hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài người; là một nhân cách vĩ đại, tự tại vô nhiễm giữa dòng đời, một bậc Đạo sư dẫn đường cho chúng sanh lìa bờ mê qua bến giác.

lehoiducphatdansanh-thichthonghue

Tuy sống trong nhung lụa êm ấm, ở ngôi vị thái tử sắp kế nghiệp vua cha, nhưng Ngài từ bỏ tất cả ngai vàng quyền uy, vợ đẹp con xinh, xuất gia tìm đường giải thoát. Tự mình dấn thân tìm đạo, vượt bao gian nan khó nhọc, lìa bỏ hai cực đoan hưởng thụ ngũ dục, đam mê dục lạc làm chậm trễ tiến bộ đời sống tâm linh và khổ hạnh ép xác làm tinh thần u ám, không có lợi cho sự tu tập, Ngài đi theo Trung đạo, tự nỗ lực thiền định cho đến Giác ngộ. Từ đó, Ngài bắt đầu chuyển pháp luân ròng rã suốt 49 năm hoằng hóa lợi sinh, cho đến 80 tuổi, thị hiện Niết bàn dưới hai cội Sala trong tư thế kiết tường. Như vậy, từ lúc thị hiện Đản sanh cho đến khi Niết bàn thị tịch, cả cuộc đời Đức Phật đều rất đẹp, rất vi diệu, xứng đáng là bậc "Thiên nhơn chi Đạo sư, tứ sanh chi Từ phụ", là tấm gương sáng ngời cho chúng ta noi theo.

Ở Việt Nam cũng có một vị vua, sau hai lần đánh đuổi giặc Nguyên Mông xâm lược, mang lại thái bình thịnh trị cho đất nước, Trần Nhân Tông đã từ bỏ ngai vàng, xem như đôi dép rách, một mình chống gậy trúc lên núi Yên Tử tu hành ngộ đạo, khai sáng ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, mang đậm bản sắc Phật giáo của người dân Việt. Đây là điều đáng cho chúng ta tự hào với Phật giáo thế giới. Chư Phật, chư Tổ đối với giàu sang, quyền uy tột bực còn chối bỏ, quý cầu sự giải thoát tối thượng thì chúng ta há lại đam mê chấp trước sao? Đạo Phật mang một giá trị siêu xuất, vượt ngoài những thú vui thường tình nhưng không tách rời cuộc sống thế tục, mà "Hòa quang đồng trần", làm lợi ích cho quần sanh.

Năm 2010, Việt Nam chúng ta kỷ niệm sự kiện 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, đánh dấu một sự kiện trọng đại mang tính lịch sử của dân tộc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam. Đây là dịp thể hiện các hoạt động mang bản sắc văn hóa Phật giáo truyền thống của dân tộc, là cơ hội xác định sự hòa nhập giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. Đây cũng là Đại lễ uống nước nhớ nguồn, ôn lại những truyền thống văn hóa của đất nước ta trải qua hàng nghìn năm văn hiến. Qua đó, cũng khẳng định sự đồng hành giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Giáo lý mà Đức Phật đã tuyên thuyết là một nền giáo lý đầy minh triết và nhân bản. Đạo Phật lấy con người làm trung tâm của vũ trụ, tự quyết định cho số phận của mình theo sự vận hành của luật nhân quả nghiệp báo, hoàn toàn tự mình gieo nhân để thọ quả vui hoặc khổ, không phó thác số phận cho người khác. Cũng không vị Giáo chủ nào cao thượng đến mức nâng tín đồ lên ngang hàng với mình như Đức Phật: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh", hoặc "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành". Đức Phật không tự thiết lập cho Ngài một quyền lực gì, và đạo Phật cũng không có giáo quyền, binh quyền nên chưa từng có một cuộc thánh chiến nào mang danh Đức Phật để tiến hành những cuộc chiến đẫm máu trong lịch sử nhân loại. Nếu gặp thời pháp nạn, chỉ áp dụng theo tinh thần bất bạo động, không khuyến khích tín đồ đứng lên cầm vũ khí đấu tranh. Chính vì thế, Phật giáo được Liên Hiệp Quốc công nhận là Tôn giáo Văn hóa Thế giới, vì mục đích mang lại hòa bình cho toàn cầu, và ngày Phật đản sanh cũng được xem là ngày Lễ hội Văn hóa Thế giới, đó cũng là điều xứng đáng.

"Mặt trời sáng ban ngày,

Mặt trăng sáng ban đêm,

Khí giới sáng Sát lợi,

Thiền định sáng Phạm chí,

Còn hào quang Đức Phật,

Chói sáng cả ngày đêm".

(Pháp Cú 387)

Chỉ có hào quang của Đức Phật chiếu sáng xuyên suốt cả không gian và thời gian. Cái thấy của Ngài bằng trí tuệ Bát nhã soi sáng cùng khắp pháp giới, không có giới hạn. Toàn thể vũ trụ vạn hữu đều nằm trong ánh sáng giác ngộ của Phật. Ngài là đấng tối tôn tối thắng nhất, với trí tuệ siêu việt và hạnh đức từ bi cao thượng, dù có xưng tán đến đâu cũng không thể hết được. Chúng ta là đệ tử của Đức Phật, kỷ niệm Đản sanh, phải cố gắng nỗ lực tiến tu, để không cô phụ lòng từ mà Ngài đã chỉ dạy.

Thiền viện Trúc Lâm Viên Ngộ Mùa Phật đản - PL. 2554

Thích Thông Huệ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/10/2015(Xem: 13616)
Tôi nhận được email, nhắn tin, điện thoại mỗi ngày. Nhiều lắm. Trong số đó có những thắc mắc, những trăn trở và đây là một trong rất nhiều số đó. “Con xin phép hỏi thầy 1 câu ạ: các nhà sư khi xuất gia (đã thành đại đức và là trụ trì 1 ngôi chùa) thì có được phép ăn mặn và uống rượu bia không ạ. Vì con có tìm hiểu và biết rằng Phập Pháp rất tốt cho bản thân con và những người xung quanh nên con có tham gia 1 câu lạc bộ phật tử ở tỉnh Nam Định (quê con ạ) và có theo 1 thầy đại đức. Nhưng hóa ra con mới biết là thầy không ăn chay mà cũng thi thoảng uống rượu, bia. Theo thầy Hùng thì con có nên theo thầy đại đức này không ạ?”
03/10/2015(Xem: 31786)
Bằng nguyện lực của Tam Bảo Tối Thượng đáng tin cậy Và chân lý của tinh thần trách nhiệm toàn cầu của chúng con, Nguyện cho Phật pháp quý báu lan rộng và hưng thịnh Ở mọi vùng đất, theo chiều dài và chiều rộng của phương Tây.
03/10/2015(Xem: 15023)
(1) Nền tảng của mọi phẩm chất tốt đẹp là vị bổn sư tử tế, hoàn hảo và thanh tịnh; Sùng mộ ngài một cách đúng đắn là cội nguồn của đường tu. Nhờ thấy rõ điều này và gắng sức, Xin hộ trì cho con thành kính nương tựa nơi ngài.
03/10/2015(Xem: 14716)
Một trong những mục đích chính của việc tranh luân trong khi tu học Phật pháp là để giúp bạn phát triển nhận thức quả quyết (nges-shes). Bạn sẽ chọn một quan điểm và người đối tác trong cuộc tranh luận sẽ thách thức quan điểm này bằng nhiều quan điểm khác nhau.
03/10/2015(Xem: 14838)
Xin đảnh lễ chư đạo sư đáng tôn kính nhất! (1) Tôi sẽ hết lòng giảng giải, Các điểm trọng yếu trong tất cả Kinh điển của Đấng Chiến Thắng, Đường tu được tất cả chư Bồ tát thiện hảo tán thán, Cửa ngõ cho những người may mắn mong cầu giải thoát.
03/10/2015(Xem: 13787)
Một ngày nọ, khi Milarepa đang ở trong hang động một mình thì hai vị khách tìm đến hỏi han. - Ông ở một mình à? Ông không thấy cô đơn sao? - Tôi luôn luôn sống với một người nào đó, không bao giờ đơn độc. Ngài trả lời. - Nhưng ông sống với ai? Người trẻ tuổi hơn trong hai người hỏi ngài.
03/10/2015(Xem: 16071)
Mối quan hệ sâu đậm với một vị thầy tâm linh có thể là sự nối kết thăng hoa và quan trọng nhất trong một đời người. Nó cũng có thể là nguồn gốc của sự lừa dối bản thân, đau đớn và tuyệt vọng tinh thần. Tất cả đều dựa vào việc chủ động tạo ra một quan hệ lành mạnh. Điều này lại tùy thuộc vào một thái độ thực tiễn về trình độ của chính mình và vị thầy, về mục đích, động lực và ranh giới của mối quan hệ.
03/10/2015(Xem: 16748)
Milarepa có một người chị cứ khăng khăng bảo ngài đi cưới vợ, xây nhà và sinh con, nhưng ngài đã bỏ nhà ra đi và gặp vị thầy của mình là Marpa. Khi chị của ngài biết rằng Marpa đã lập gia đình, bà càng ép buộc Milarepa hơn nữa.
03/10/2015(Xem: 14389)
Trong Hiện Quán Trang Nghiêm Luận (mNgon-rtogs rgyan, tiếng Phạn, Abhisamayalamkara), Đức Di Lặc đã liệt kê bốn mươi sáu lỗi lầm ảnh hưởng đến việc phát triển trí tuệ tương ứng với căn cơ của chư Bồ tát (sbyor-ba’i skyon). Những lỗi lầm này có thể xảy ra trong tâm thức của một Bồ tát thánh nhân từ sơ địa cho đến thất địa, như đã được trình bày theo hệ thống trong sơ đồ của trường phái Y Tự Khởi (Svatantrika). Mặc dù chúng đã được trình bày theo hệ thống bằng cách nghiên cứu văn học Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamita, Far-reaching Discriminating Awareness, Perfection of Wisdom), các lỗi lầm này cũng có thể liên quan đến những khía cạnh khác trong việc tu học và hành trì.
03/10/2015(Xem: 20162)
Tiểu sử của một lama vĩ đại được gọi là “namtar” (rnam-thar), một tiểu sử mang tính cách giải thoát, vì nó tạo nguồn cảm hứng cho người nghe noi theo gương của ngài để đạt được giải thoát và giác ngộ. Tiểu sử của ngài Tông Khách Ba (Tsongkhapa) (rJe Tsong-kha-pa Blo-bzang grags-pa) (1357-1419) thật sự gây nhiều cảm hứng.