Bảy bước chân thánh

20/03/201216:41(Xem: 10244)
Bảy bước chân thánh
BẢY BƯỚC CHÂN THÁNH
Ngẫu Hồ

phatdansinh7hoasen-contentPhật tử chúng ta đến chùa thường hay bắt gặp hình cảnh một vị tiểu Phật cao khoảng 3 bộ, bụ bẫm, xinh đẹp, quấn ngang người một tấm vải từ vai xuống, giống như cách phục sức của một vị tăng, đứng trên một hoa sen đầu tiên và trước mặt là 6 đóa hoa sen giống như nhau, ngón trỏ tay phải chỉ lên trời, ngón trỏ tay trái chỉ xuống đất. Được biết có chùa đặt vị tiểu Phật ở hoa sen thứ bảy, sau lưng là 6 đóa hoa sen và cũng cùng một thế chỉ trời và đất như vậy.

Hình cảnh này bắt nguồn từ câu chuyện trong kho tàng văn học của Phật Giáo rằng, bà Hoàng Hậu Maya, vợ vua Tịnh Phạn, vào thời gian có mang Đức Phật ở những ngày sau cùng, một hôm đi dạo chơi với các tì nữ hầu cận trong vườn Thượng Uyển, thì bỗng trở dạ và sanh ngài luôn tại đây. Lúc vừa lọt qua lòng mẹ, thì ngài đứng luôn dạy, nhận khăn vải từ một tì nữ, tự quấn ngang người, rồi bước lên một hoa sen hiện ra từ mặt đất, rồi bước tới bông sen thứ hai cũng hiện ra ngay sau đó từ mặt đất, rồi bông sen thứ ba, cho đến bông sen thứ bảy thì ngừng lại và một ngón trỏ của bàn tay phải chỉ lên trời và ngón trỏ của bàn tay trái chỉ xuống đất, miệng thì thốt ra câu:

“Trên trời, dưới đất, chỉ có ta là tôn quý”

Đây là một câu chuyện gây tranh cãi cho phần lớn Phật tử tri thức, vì nó hoàn toàn mang tính huyền hoặc và nhất là nó mâu thuẫn với lịch sử của Phật Giáo. Lịch sử như chúng ta biết là ngài lúc 5 tuổi theo cha ra đồng để dự lễ Hạ Điền mà Hoàng Gia tổ chức cho nông dân vui chơi đầu mùa xuân, trước khi nông dân gieo mạ, lúc mọi người đang vui chơi, thì ngài tìm một bóng cây và ngồi theo thế thiền định. Ngài lớn lên trong sự quan tâm và giáo dục đặc biệt của vua cha và mẹ kế và cũng là dì ruột của mình, năm 19 tuổi thì lập gia đình, có một con trai tên là Aluha, năm 29 tuổi thì xuất gia, sau 6 năm trời tu khổ hạnh tìm chân lý, nhưng không thỏa ước nguyện, ngài đã quyết tâm tu thiền và ngài đã thành đạo năm ngài 35 tuổi, đến năm 80 tuổi thì ngài chấm dứt việc giáo hóa chúng sinh. Ngài truyền trao giáo đoàn lại cho vị cao tuổi nhất của ngài là ngài Đại Ca Diếp cùng với pháp tối thượng, rồi sau đó nhập diệt.

phat-dansinh-0012-thumbnailCâu chuyện lịch sử của Phật Thích Ca vừa mới tóm lược như trên và câu chuyện 7 bước với lời tuyên bố mang tính huyền thoại của ngài lúc vừa mới lọt lòng mẹ, nếu để đứng cạnh nhau, thì thật là mâu thuẫn, đến độ mang tính loại trừ, nghĩa là, nếu có chuyện này thì không thể có chuyện kia. Vì rõ ràng nếu ta chỉ tìm ý nghĩa ngay trên mặt chữ, thì câu chuyện bảy bước và lời tuyên bố đầy cao ngạo của một trẻ sơ sinh chỉ là chuyện hoang đường, mờ ảo, tuyệt nhiên không thể là một câu chuyện phát tích của một vị thày của toàn thể tri thức lúc đó và ngay cả bây giờ nữa. Phải chăng đây là một biểu tượng cho một thâm sâu vi diệu nào đó? Vậy ta thử chịu khó suy tư và đào sâu vào câu chuyện bảy bước này xem sao:

Này nhé, một vị tiểu Phật vừa mới ra đời cũng đồng nghĩa với một người xưa nay chưa từng tiếp xúc với Phật pháp, mà nay vì một duyên tình cờ nào đó, lại được gặp Phật pháp, và thấy rằng Phật pháp quả thật là có thể lý giải được những nghi ngờ, khúc mắc của ta trước đây, và ngay tại điểm này ta bùng vỡ một cái thấy, ý nghĩa rõ ràng, sau đó, ta tự nhủ rằng, từ nay sẽ xem Phật pháp là kim chỉ nam, là phương tiện thù thắng, để giải đáp cho ta những vấn đề thâm sâu hơn, thì cũng ngay tại điểm này, ta chính là một vị tiểu Phật vừa mới ra đời.

Nhưng là một vị tiểu Phật ra đời, không có nghĩa là ta thành quả vị Phật ngay đâu, mà ta phải học, và tu những Phật pháp từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó và sau cùng, ta phải đứng và bước đi được trên 7 hoa sen. Đây chính là cái thâm sâu của câu chuyện 7 bước hoa sen.

Phải chăng 7 hoa sen tượng trưng cho 7 thức sau khi đã được thanh tịnh hóa, đó là Tỉ, Thiệt, Nhãn, Nhĩ, Thân, Ý và Mạt Na Thức. Tổng cộng là 7 thức = 7 hoa sen.

Phải chăng việc đứng và đi trên 7 hoa sen là hoàn toàn làm chủ được các thức tình này. Mà khi thanh tịnh và làm chủ được 7 thức tình này, thì thức thứ 8 là A Lại Da Thức (Alaya) cũng chính là chân tâm, cũng chính là chân ngã thức, sẽ được hoàn toàn giải thoát và lúc được giải thoát rồi, thì chân ngã thức mới được gọi là tôn quý. Cho nên mới nói: Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn, tức là:

“Trên trời, dưới đất, chỉ có ta (ngã) là tôn quý”

Ngã đây chính là chân ngã, là một trong 4 ý nghĩa của lý giải thoát là: Thường, Lạc, Ngãvà Tịnh.

Xin được giải thích về cái ngã trong lý vô ngã của Đức Thích Ca. Khi có người hỏi tại sao đạo Phật chủ trương vô ngã, mà trong đây lại nói là có một cái ngã giải thoát (tức là có cái ta giải thoát), sao lại có sự mâu thuẫn này? Thưa đúng vậy, cái ngã đã được giải thoát chính là cái ngã vô ngã.

Sự giải thoát có thể dụ cho một sự sáng không bờ mé, ngăn ngại và cái ngã đã được giải thoát (vô ngã) dụ cho một cái sáng khác ở trong cái sáng không bờ mé đó, sẽ chẳng ai thấy cái sáng của ta (giải thoát, vô ngã) mà chính ta cũng không thấy cái sáng này (vô ngã), nhưng ta luôn luôn biết rằng, ta có sáng (có giải thoát=vô ngã).

Vậy câu chuyện 7 bước của một vị tiểu Phật vừa mới ra đời và câu nói “Trên trời, dưới đất, chỉ ta là tôn quý” chỉ là một hình cảnh biểu tượng, gói ghém trọn vẹn đạo lý giải thoát của Đức Thích Ca Mâu Ni.

Trên đây, xin đóng góp một vài lý giải thô thiển, nếu chư vị Phật tử thấy hợp ý, thì xin được phổ biến, giải thích cho những người khác khi được hỏi tới 7 bước chân Phật để cùng nhau tin tưởng chánh pháp của Đức Thích Ca.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật tử Ngẫu Hồ.

Xem thêm:

HUYỀN THOẠI ĐẢN SINH - Thích nữ Tịnh Quang
ĐẾN ĐỂ THẤY, THẤY ĐỂ TIN: LÂM TỲ NI NƠI PHẬT ĐẢN SINH - Tâm Diệu
NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN BÀN VỀ TÍCH ĐẢN SANH- Tâm Diệu

Source: thuvienhoasen
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 20037)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17285)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14775)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16259)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12250)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11130)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11705)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7648)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8710)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8043)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.