Không lầm thân mộng

22/01/201217:59(Xem: 10006)
Không lầm thân mộng
ht%20thanh%20tu

Mỗi đêm chúng ta đềutụng Bát-nhã “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. Chiếu kiến ngũ uẩn của ai? Ngũuẩn của mình. Như vậy là soi sáng, xét nét lại chính mình để biết rõ năm uẩnkhông thật, không có thực thể, từ đó mà qua tất cả khổ nạn. Thân đã không thậtthì cảnh bên ngoài có thật được không? Không. Vậy mà con người luôn thấy thântâm và muôn sự muôn vật lúc nào cũng có thật.

Chư Phật, Bồ-tát biết rõ cuộc đời là ảo mộng, đã là ảo mộng thì còn gì quantrọng nữa để lôi cuốn chúng ta chìm trong mê muội. Điều thiết yếu là chúng taphải khắc tỉnh, mạnh dạn vượt qua ảo mộng. Có một sự tích liên quan đến đếnviệc gá thân mộng như thế này: Thiền sư “Đả Táo Đọa”, do đập bể ông táo màthành danh. Ngài tu ở vùng núi Xuân Sơn bên Trung Hoa với một số đồ chúng. Mộthôm Ngài dẫn chúng đi dạo núi, đến gần thung lũng thấy một miếu thờ, dân chúnglàm thịt bò, trâu, heo, gà dâng cúng liên miên. Hỏi ra được biết vị thần Táo ởmiếu này rất linh, cầu gì được nấy. Nghe rồi, Ngài cầm gậy vô miếu, thấy trênbàn thờ có để ba viên gạch, Ngài lấy gậy gõ vào đó nói: “Đây là do gạch đấthợp thành, linh từ đâu lại, thiêng ở chỗ nào ?”Nói xong, Ngài đập một gậy,ba viên gạch bể nát rơi xuống đất. Lát sau trên đường đi, gặp một vị áo xanh mũxanh quì trước mặt. Ngài hỏi:

- Ông là ai ?

- Con là thầnTáo trong miếu đến tạ ơn Hòa thượng.

Ngài nói:

- Ta đã làmgì mà ngươi tạ ơn ?

- Nhờ ơn Hòathượng nói lý vô sanh mà con tỉnh ngộ, thác sanh lên cõi trời, bỏ thân đọa đàytrong bao nhiêu đời ở tại miếu này.

Nói xong ôngđảnh lễ rồi biến mất. Thị giả thấy vậy mới thưa:

- Bạch Hòathượng, con hầu Ngài đã lâu mà không được nghe nói lý vô sanh, thần Táo này cóphước gì mà Hòa thượng mới nói một câu ông liền ngộ ?

Ngài lặp lạicâu nói trên cho thị giả nghe và hỏi:

- Ông hộikhông ?

- Dạ conkhông hội.

Ngài nói:

- Bể rồi! Bểrồi! Rơi rồi! Rơi rồi!

Thị giả liềnngộ.

Kể chuyện nàyđể quí vị hiểu chỗ chúng tôi dùng chữ gá. Thần Táo gá vào đất gạch mà phải ở đóbao nhiêu năm. Còn chúng ta gá vào cái gì? Gá vào đất nước gió lửa, rồi chấp đócho là mình, có đau khổ chưa? Cho là mình rồi thì giành hơn giành thua, chấpphải chấp quấy. Bao nhiêu tội nghiệp cũng từ đó mà ra. Nếu bây giờ nhớ thân nàylà cái mình gá, không có gì quan trọng hết, biết như vậy là biết được lý vôsanh.

Thân này làgiả tạm, là mộng, mộng thì có gì thật đâu. Trong khi mộng, sanh cũng mộng, tửcũng mộng, sanh không thật sanh, tử không thật tử. Nhận được như vậy thì lý vôsanh hiện tiền. Ngay thân này, nhận được lẽ thật thì thấy đạo, thấy đạo thìthoát ly sanh tử. Ngược lại, chúng ta cứ bám vào thân này cho là thật, là quírồi xem cái khổ vui, hơn thua của nó là quan trọng, tức nhiên mình bị nó chiphối, không những trong hiện đời, mà cả lúc thọ thân sau. Cho nên ngay thân nàychúng ta thức tỉnh, biết được nó là mộng thì tự nhiên có thể lần lần thoát ly,không bị nó cuốn lôi nữa. Do đó thần Táo chỉ nhờ nghe câu: “Đây là do gạch đấthợp thành, linh từ đâu lại, thiêng ở chỗ nào ?”, ông giựt mình thức tỉnh liềnbuông được cái gạch đất và sanh lên cõi trời.

Chúng ta khibiết rõ thân này do đất nước gió lửa hợp thành, không phải thật mình thì sao ?Thật nhẹ nhàng biết mấy, nhưng không chịu buông, cứ bám vào đó mà hơn thua phảiquấy. Có những đêm tôi ngồi ở ngoài, đuổi muỗi cắn, tôi rờ thấy xương, thấythịt, một hồi tôi tức cười quá. Thân này thật không ra gì, gá vào nó cực quá.Gá từng khúc từng mảnh, mà cứ cho là mình, từ đó bao nhiêu cái dở phát sanh, kểkhông thể hết. Vậy mà cứ hài lòng, động đến là phản đối chống trả mãnh liệt.

Chúng ta chỉcần thức tỉnh thân này tạm gá mượn, lấy đó làm bè qua sông, đừng nghĩ nó làthật, cứ lo bồi bổ tô điểm đủ thứ mà chìm đắm, không qua sông được. Những điềutôi nói trên đây nhằm nhắc nhở cho cả Tăng Ni và cư sĩ. Nếu chúng ta thức tỉnhđược điều đó thì chuyện thoát ly sanh tử không khó. Còn nếu chúng ta mê hoàithì không biết chừng nào ra khỏi biển sanh tử. Cho nên chủ yếu Phật dạy lý vôngã là như vậy. Thấy rõ thân này không phải thật ngã thì tự nhiên thoát ly sanhtử. Nếu thấy là thật ngã thì ngàn đời không bao giờ ra khỏi sanh tử, dù tu hạnhgì cũng thế. Đó là một lẽ thật.

Đối với người tỉnh,thương mình là phải tìm ra cái gì thật mình, cái gì không phải thật mình. Chúngta xét xem nơi mình cái gì thật, cái gì không thật. Thân này thật không ? Khôngthật. Tạo sao? Vì thân vô thường, duyên hợp tạm có. Nhà Phật nói thân do bốnphần đất, nước, gió, lửa hợp lại thành. Chất cứng trong người là đất, chất ướttrong người là nước, chất động trong người là gió, hơi ấm trong người là lửa.Bốn thứ đó thiếu một thì không sống được.

Khi bốn chất đó hợp lạithành thân rồi, muốn thân tăng trưởng lâu dài thì phải mượn đất, nước, gió, lửabên ngoài bồi bổ thêm hoài. Như vậy nó mới còn, mới tăng trưởng. Như lỗ mũichúng ta đang thở. Hít vô là mượn, thở ra là trả. Mượn trả, mượn trả… trả ra màkhông mượn lại thì tắt thở. Nếu thân thật thì đâu cần mượn, mà mượn thì khôngthật. Đó là nói về gió.

Đến nước, một lát mượntách nước, mượn rồi trả. Rồi mượn cơm tức là mượn đất, mượn rồi cũng trả. Nhưvậy chúng ta sống an vui, khỏe mạnh là nhờ mượn trả suông sẻ. Nếu mượn trả trụctrặc thì phải đến bệnh viện cứu cấp liền. Thế thì giá trị của con người ở chỗnào? Chỉ là sự mượn trả, mà chúng ta cứ ngỡ mình thật, mình là chủ tất cả. Khithấy được thân này vay mượn tạm bợ, chúng ta có bớt quí nó không? Giả sử aichê, nói mình xấu quá ta có giận không? Đã là đồ vay mượn, xấu tốt có quantrọng gì.

Sở dĩ người ta chê mộtcâu mà mình nổi sân đùng đùng là do ta tưởng mình quí, tưởng mình tốt. Còn nếubiết mình là hư giả, người ta nói gì mình cũng cười thôi. Đó là người trí tuệ,ngược lại là kẻ si mê. Như vậy lấy cái tạm bợ làm cái chân thật của mình cóđược không ? Chắc chắn không được rồi. Đó là tôi nói về thân.

Đến tâm, cái gì là tâmmình ? Vấn đề này tế nhị hơn. Lâu nay chúng ta quen cho nghĩ thiện nghĩ ác… làtâm mình. Tôi xin hỏi, từ khi cha mẹ sinh ta ra đến ngày nhắm mắt, mình là mộthay trăm thứ tạp nhạp ? Tâm suy nghĩ thiện ác hơn thua phải quấy tạp nhạp, mộtngày đổi thay cả trăm lần. Nếu tâm ấy là mình thì chúng ta tạp nhạp mất rồi.Nên phải biết tâm buồn thương giận ghét hơn thua phải quấy chỉ là những mảnhvụn, tạm bợ, chứ không phải thật tâm mình.

Đạo Phật chỉ cho chúngta cái gì là thật nơi mình. Như khi niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, tâm khôngcòn suy nghĩ lăng xăng nữa, mới được đức Phật đón về Cực Lạc. Tại sao phải niệmtới chỗ nhất tâm? Vì tất cả những nghĩ suy đều là tạp nhạp hư dối, không phảithật mình. Lặng hết những thứ đó, tâm chân thật mới hiện bày. Tâm chân thậthiện bày nên Phật mới đến đón. Cho nên niệm Phật phải niệm tới nhất tâm là vậy.

Người tu thiền để đượcđịnh. Định những tâm lăng xăng lộn xộn mà lâu nay chúng ta mê cứ tưởng nó làmình. Những thứ giả dối tạm bợ ấy lặng rồi thì được định. Định tới chỗ cứu kínhsẽ được Niết-bàn vô sanh. Như vậy, chủ trương đạo Phật dạy tu là dẹp tâm lăngxăng lộn xộn, trở về tâm chân thật sẵn có nơi mình. Lâu nay chúng ta quên nêncứ chạy theo những thứ lăng xăng thành ra chìm mãi trong sanh tử khổ đau.

Năm cũ sắptàn, bước qua năm mới, chúng tôi mong rằng quí vị tại gia nỗ lực làm đúng tinhthần học hiểu của mình. Còn giới xuất gia lập chí đúng tinh thần người xuấtgia, để chúng ta chuẩn bị cho năm mới, cương quyết tiến tới mục đích mình đãđịnh.

Mong tất cảchuẩn bị cho năm mới đẹp đẽ hơn, mạnh mẽ hơn, cứng cỏi hơn để đạt được sở nguyệncủa mình. Đó là lời chúc xuân của tôi.

HT. Thích Thanh Từ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/10/2015(Xem: 14589)
(1) Nền tảng của mọi phẩm chất tốt đẹp là vị bổn sư tử tế, hoàn hảo và thanh tịnh; Sùng mộ ngài một cách đúng đắn là cội nguồn của đường tu. Nhờ thấy rõ điều này và gắng sức, Xin hộ trì cho con thành kính nương tựa nơi ngài.
03/10/2015(Xem: 14318)
Một trong những mục đích chính của việc tranh luân trong khi tu học Phật pháp là để giúp bạn phát triển nhận thức quả quyết (nges-shes). Bạn sẽ chọn một quan điểm và người đối tác trong cuộc tranh luận sẽ thách thức quan điểm này bằng nhiều quan điểm khác nhau.
03/10/2015(Xem: 14333)
Xin đảnh lễ chư đạo sư đáng tôn kính nhất! (1) Tôi sẽ hết lòng giảng giải, Các điểm trọng yếu trong tất cả Kinh điển của Đấng Chiến Thắng, Đường tu được tất cả chư Bồ tát thiện hảo tán thán, Cửa ngõ cho những người may mắn mong cầu giải thoát.
03/10/2015(Xem: 13283)
Một ngày nọ, khi Milarepa đang ở trong hang động một mình thì hai vị khách tìm đến hỏi han. - Ông ở một mình à? Ông không thấy cô đơn sao? - Tôi luôn luôn sống với một người nào đó, không bao giờ đơn độc. Ngài trả lời. - Nhưng ông sống với ai? Người trẻ tuổi hơn trong hai người hỏi ngài.
03/10/2015(Xem: 15461)
Mối quan hệ sâu đậm với một vị thầy tâm linh có thể là sự nối kết thăng hoa và quan trọng nhất trong một đời người. Nó cũng có thể là nguồn gốc của sự lừa dối bản thân, đau đớn và tuyệt vọng tinh thần. Tất cả đều dựa vào việc chủ động tạo ra một quan hệ lành mạnh. Điều này lại tùy thuộc vào một thái độ thực tiễn về trình độ của chính mình và vị thầy, về mục đích, động lực và ranh giới của mối quan hệ.
03/10/2015(Xem: 16382)
Milarepa có một người chị cứ khăng khăng bảo ngài đi cưới vợ, xây nhà và sinh con, nhưng ngài đã bỏ nhà ra đi và gặp vị thầy của mình là Marpa. Khi chị của ngài biết rằng Marpa đã lập gia đình, bà càng ép buộc Milarepa hơn nữa.
03/10/2015(Xem: 13702)
Trong Hiện Quán Trang Nghiêm Luận (mNgon-rtogs rgyan, tiếng Phạn, Abhisamayalamkara), Đức Di Lặc đã liệt kê bốn mươi sáu lỗi lầm ảnh hưởng đến việc phát triển trí tuệ tương ứng với căn cơ của chư Bồ tát (sbyor-ba’i skyon). Những lỗi lầm này có thể xảy ra trong tâm thức của một Bồ tát thánh nhân từ sơ địa cho đến thất địa, như đã được trình bày theo hệ thống trong sơ đồ của trường phái Y Tự Khởi (Svatantrika). Mặc dù chúng đã được trình bày theo hệ thống bằng cách nghiên cứu văn học Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamita, Far-reaching Discriminating Awareness, Perfection of Wisdom), các lỗi lầm này cũng có thể liên quan đến những khía cạnh khác trong việc tu học và hành trì.
03/10/2015(Xem: 19619)
Tiểu sử của một lama vĩ đại được gọi là “namtar” (rnam-thar), một tiểu sử mang tính cách giải thoát, vì nó tạo nguồn cảm hứng cho người nghe noi theo gương của ngài để đạt được giải thoát và giác ngộ. Tiểu sử của ngài Tông Khách Ba (Tsongkhapa) (rJe Tsong-kha-pa Blo-bzang grags-pa) (1357-1419) thật sự gây nhiều cảm hứng.
03/10/2015(Xem: 12543)
Dưới đây là một bài giảng ngắn của nhà sư người Mỹ Thanissaro Bhikkhu (1940- ), tu tập theo truyền thống "Tu Trong Rừng" của Phật giáo Theravada, về việc chữa trị bệnh tật trong tâm thần cũng như trên thân xác nhờ vào phép thiền định về hơi thở. Tuy là một bài giảng ngắn, thế nhưng việc mô tả phép thiền định này thật hết sức chi tiết và rõ ràng mà mọi người đều có thể mang ra để luyện tập. Độc giả có thể tìm đọc bản gốc tiếng Anh của bài này trên mạng của nhà sư Thanissaro:
01/10/2015(Xem: 13021)
Trước trung thu nhiều người có hỏi tôi: “Ở Sài Gòn, tết trung thu, ngoài phố lồng đèn bạn có biết đi đâu được nữa không?”. Tôi cũng tự băn khoăn, liệu trung thu năm nay mình sẽ làm gì, đi đâu để trung thu tuổi 19 không chỉ là câu chuyện của sum vầy, của chiếc bánh trung thu được san sẻ cùng chị cùng mẹ. Tôi muốn trung thu này sẽ còn là câu chuyện của ý nghĩa, của niềm hạnh phúc, của yêu thương, của ấn tượng khó phai. Và tôi đã có lựa chọn cho chính mình - cùng vun đắp Trung thu này cùng CLB yêu sách Thái Hà và những mầm non nơi xa xôi đô thành.