Tự thân & tha nhân

15/01/201214:50(Xem: 14177)
Tự thân & tha nhân
Duc_Phat_Thich_Ca (4)
Tự thân & tha nhân

HT. Thích Thiên Ân– Quảng Trí dịch

Sự thể hiện đích thực về đờisống của người Phật tử không phải là ngôn ngữ, kiến thức mà là hành động. Tọathiền là quan trọng; giữ tâm điềm tĩnh, lắng dịu và nghiêm túc trong quá trìnhhành thiền là cần thiết, nhưng đấy không phải là nhiệm vụ khó khăn nhất. Nhiệmvụ khó khăn nhất ấy là đem tâm nghiêm túc ấy vào trong đời sống thường nhật.


Trong Đại thừa Phậtgiáo, vị Bồ tát được ví như hoa sen, mọc lên từ bùn mà không nhiễm mùi bùn, vẫnnở hoa tươi đẹp và tinh khiết. Vị Bồ tát sống trong đời mà không bị nhiễm bụitrần khi vị ấy cứu giúp mọi chúng sanh. Một thiền sinh phải cố gắng làm sao đểgiống như vị Bồ tát. Thiền sinh có thể sống đời sống của một con người bìnhthường, nhưng luôn luôn kiểm soát được tâm và luôn tràn đầy trí tuệ và từ biđối với mọi loài chúng sanh.

Để đạt được tâm Bồ tát, bước quan trọng nhất là phải có sự tỉnh giác thựcsự về bản thân và về mối quan hệ với người khác. Con người là loài vật duy nhấtcó khả năng tự ý thức và tự làm chủ chính mình. Khả năng hiểu về bản thân làđiều khiến cho nhân loại trở thành loài có khả năng nhất trong sáu cõi về khảnăng tu tập để đạt đến giác ngộ. Con người và động vật không chỉ khác nhau vềlối sống mà còn khác nhau về những mức độ ý thức. Một con vật chỉ có ý thức vềnhững thứ xung quanh chúng, về thế giới bên ngoài. Con người thì tiến bộ hơnthế, con người không chỉ ý thức về thế giới bên ngoài mà còn ý thức về bảnthân, về toàn bộ sự sống của mình.

Vì thế, bước đầu tiên hướng đến sự giác ngộ chính là hiểu “ngã” là gì. Nótồn tại hay không tồn tại? Nó thường hằng hay không thường hằng? Theo triết họcPhật giáo, “ngã” là một thực thể gồm có hai đặc tính: kết hợp và thay đổi. Thânthể của chúng ta, cuộc sống của chúng ta là sự kết hợp của bốn yếu tố: chấtcứng, chất ướt, không khí, hơi nóng. Chúng ta không thể nào sống được nếu bốnthứ này tách rời nhau, bởi vì cái mà chúng ta gọi là “thân thể của mình” là gồmcó bốn yếu tố vật lý ấy kết hợp với nhau và duy trì sự kết hợp ấy.

Tuy nhiên, cuộc sống của chúng ta không chỉ có thân thể vật lý mà còn cóphần tâm thức nữa. Do vậy, triết học Phật giáo dẫn chúng ta đến sự ý thức vềmột thứ khác, đó là tâm thức. Tâm là gì? Có phải nó là một thực thể? Nó có tồntại mãi không? Nó có vật chất không? Theo tư tưởng của Phật giáo, tâm được cấuthành bởi bốn yếu tố khác nhau, đó là: thọ, tưởng, hành, và thức. Tâm khôngphải là một thực thể, không thường hằng, không thực. Nói cách khác, cuộc sốngcủa chúng ta được duy trì vì thân và tâm kết hợp lại với nhau. Chính thân vàtâm vốn đã không thực, chúng là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau. Bởi vìchúng là sự kết hợp của nhiều thành tố, cho nên sự sống dễ thay đổi. Từ quá khứđến hiện tại và đến tương lai, sự sống thay đổi trong từng sát na. Không có gìlà thường hằng trong thế giới này cả. Cuộc sống cũng giống như vòng lửa đượctạo ra khi chúng ta cầm một cây nhang và quay nhanh. Khi chúng ta ngừng quaythì vòng lửa cũng tự động biến mất. Sự vận động của cuộc sống cũng như thế.Trong kinh Kim Cang có một bài kệ rằng:

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán.

Tạm dịch:

Tất cả các hiện tượng trong thế giới này
Đều như mộng huyễn, bọt nước, như bóng râm
Như giọt sương, sấm chớp, như tia sáng
Mọi người cần phải ý thức được điều này.

Mặc dù được kết hợp bởi những yếu tố khác nhau, và dễ thay đổi, chúng tavẫn tồn tại trong giờ phút hiện tại trong thế giới này. Vì thế, điều quan trọngđối với chúng ta là chúng ta phải biết về bản thân, phải ý thức về bản thân. Sựtự ý thức này nâng chúng ta vượt lên trên sự ý thức về tự ngã để đạt đến sựnhận chân về cái ngã đích thực, về cái ngã không thay đổi theo thời gian, vềcái ngã luôn luôn đi cùng chúng ta, cái ngã đích thực, Phật tánh. Có một côngán nổi tiếng trong thiền Lâm Tế rằng: “Bản lai diện mục của ngươi trước khingươi được sinh ra là gì?”, công án này thường được các vị thiền sư trao chothiền sinh để giúp thiền sinh nhận chân được bản lai diện mục, nhận chân đượcPhật tánh. Bởi vì tự chứng ngộ là mục đích chính của thiền, nên hầu hết sự hànhthiền đều nhắm vào đích điểm cuối cùng ấy.

Làm sao chúng ta có thể nhận chân được “ngã”? Làm sao chúng ta có thểsống với “chân ngã” nếu như tâm chúng ta vẫn đang lang thang và nghĩ về nhiềuthứ, khi tâm còn bị quấy nhiễu bởi lo âu và hạnh phúc. Để cho tâm được ổn định,đạo Phật đưa ra pháp tham thiền. Tham thiền là một kỹ thuật giữ tâm điềm tĩnh,bình lặng và thanh khiết. Trong khi thực tập, hành giả không bận tâm đến câuhỏi “Phật ở đâu?”, “Chúa ở đâu?”, cũng không lo lắng về những gì đã xảy ratrong quá khứ, hoặc điều gì sẽ diễn ra trong tương lai. Thậm chí hành giả khôngchú ý đến những sự kiện ở bên ngoài. Những điều bận tâm ấy là không quan trọng.Vấn đề quan trọng là phải sống với tự ngã của mình ngay bây giờ và ở đây. Thiềnhọc giới thiệu những phương pháp giúp đem sự tỉnh thức về với “ngã”, nhận diện“ngã” ngay bây giờ và ở đây.

Trong quá trình nhận diện tự ngã, hành giả hiểu được rằng không ai có thểtồn tại một mình trên thế giới này cả. Không một ai. Người ta cần sống với mộtai đó. Một hòn đảo có thể tồn tại trên đại dương, nhưng một người thì không thểtồn tại đơn lẻ. Cho nên, ngay khi hành giả hiểu rõ về chính mình, vị ấy phảinghĩ về người khác, và vị ấy phải ý thức về mối liên hệ giữa mình với ngườikhác.

Chúng ta không thể tồn tại đơn lẻ trong cuộc đời này được. Xét về vậtchất, chúng ta cần có nhau. Nhu cầu này mang chúng ta xích lại gần nhau và giúpđỡ lẫn nhau. Chẳng hạn, bởi vì chúng ta không thể tự sản xuất vải và những thứcần cho sự sống của chúng ta, cho nên chúng ta cần có người khác. Mọi người đềucần đến người khác; tất cả chúng ta, toàn thể nhân loại, đang giúp đỡ lẫn nhau.Theo triết học Phật giáo, cuộc sống là một quá trình cho và nhận. Chúng sanhđược sinh ra theo nghiệp lực của cá nhân, và để nhận sự giúp đỡ từ người khácđồng thời hoàn thành trách nhiệm của mình trong sự giúp đỡ người khác. Vì thế,về đời sống vật chất, tâm linh cũng như đời sống tình cảm đều chứng tỏ rằngcuộc sống là một quá trình của cho và nhận. Tuy nhiên, trong lúc cho, chúng tacần phải nhớ một điều: không nên tạo sự khác biệt giữa người cho và người nhận.Nếu chúng ta nghĩ rằng, chúng ta đóng vai trò người cho và người khác là ngườinhận, thì sẽ khiến mình nảy sinh lòng kiêu hãnh và mong cầu. Trong việc bantặng, không nên có khái niệm người cho, vật đem cho và người nhận. Thái độ này,thuật ngữ Phật học gọi là “không”. Lúc chúng ta cho hay nhận, chúng ta nên ýthức rõ rằng, không có người nào được cho hay nhận cả. Để làm cho người nhậnđược hạnh phúc, chúng ta phải cho mà không nghĩ mình đang ban ơn. Chúng takhông được đặt mình vào vị trí cao hơn và nhìn xuống người khác như thể họ lànhững người thấp kém hơn ta. Hay nói cách khác, chúng ta phải bố thí với tháiđộ khiêm tốn và với lòng thương yêu.

Một phẩm chất đạo đức quan trọng của đạo Phật là lòng khiêm tốn. Khiêmtốn tức là tránh đặt mình cao hơn người khác. Theo quan điểm của Phật giáo, mọingười đều là con người, vì đều là con người nên chúng ta đều có những ưu điểmvà khuyết điểm cả. Không có ai là Phật, là Bậc Toàn Giác, là người hoàn thiệncả. Nếu chúng ta nhận ra rằng chúng ta chưa hoàn thiện thì chúng ta cũng khôngđòi hỏi người khác phải hoàn thiện. Sự nhận thức này sẽ tạo nên mối quan hệ tốtđẹp giữa ta với người. Sự ý thức rằng chúng ta chưa hoàn thiện không chỉ khiếnchúng ta khiêm tốn hơn mà còn làm cho chúng ta biết tôn trọng và khoan dunghơn. Nếu chúng ta để ý đến lỗi lầm của người khác, chúng ta sẽ thất vọng và đaukhổ. Nếu chúng ta nhận ra rằng mình không hoàn thiện, chúng ta sẽ không yêu cầukhắt khe đối với người khác, biết tôn trọng, khoan dung và thương yêu ngườikhác nhiều hơn. Khoan dung là nhân tố quan trọng trong mối quan hệ giữa ngườivới người.

Mọi hành động mà chúng ta làm, mọi lời chúng ta nói đều tạo ra sự phảnứng nơi những người xung quanh. Ví dụ, khi chúng ta cảm thấy tức giận, ngườikhác thấy thế cũng cảm thấy khó chịu theo, khi thấy ta hạnh phúc thì họ cũngchia sẻ niềm hạnh phúc ấy với chúng ta. Chúng ta không chỉ chia sẻ đời sống vậtchất và chia sẻ những hàng hóa với người khác mà còn chia sẻ cả những yếu tốtình cảm và tâm linh nữa. Đấy chính là sự biểu hiện về mối liên hệ giữa ta vàngười. Bởi vì tất cả mọi người đều liên quan với nhau, không có ai là một hònđảo đơn lẻ cả. Mỗi người chúng ta là một phần của cái tổng thể. Mọi người khôngtách biệt nhau, sự tách biệt giữa ta và người là không thực. Chính sự chấp ngãvà si mê của chúng ta đã tạo ra sự chia rẽ đó. Nếu chúng ta vượt qua được sựchấp ngã và si mê của mình, chúng ta sẽ thấy được rằng mọi người thật sự khôngkhác nhau. Triết học Phật giáo và Ấn Độ giáo diễn tả điều này như sau: “Bạn làsự mở rộng của tôi và tôi là sự mở rộng của bạn”. Tại vì mọi người là sự mởrộng của chúng ta nên khi chúng ta cố ý làm cho ai đó đau khổ thì ngay lúc đóchính chúng ta cũng đau khổ. Ngược lai, bởi vì chúng ta là sự nới rộng củangười khác, nên khi họ cố tình làm hại ta thì họ cũng đang làm hại bản thân họ.

Phật giáo nhận thấy rằng tất cả mọi người và mọi chúng sanh đều phụ thuộclẫn nhau. Mặc dù thân và tâm của mọi người khác nhau nhưng mọi người vẫn tươngquan với nhau. Tất cả chúng ta là những khía cạnh của cùng một thực thể, lànhững phần khác nhau của một tổng thể, giống như muôn vàn ngọn sóng nổi lên rồilại lặn xuống giữa đại dương liên hệ qua lại với những biến đổi của đại dương.Tại vì chúng ta liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời trong đại dươngbao la của sự tồn tại, cho nên Phật giáo khuyên mọi người nên thương yêu lẫn nhau.Chúng ta phải biết xem nhau như là sự nới rộng của cùng một thực thể. Từ đóchúng ta có thể đối xử với nhau như là những người bạn, người anh em của mình,và thế giới khổ đau, thù hận này sẽ được chuyển thành cảnh giới an bình và hạnhphúc. Thế giới luân hồi này sẽ chuyển thành cảnh giới Niết bàn.

Người Phật tử cố gắng nuôi lớn tình thương yêu không giới hạn và sự khôngphân biệt ở trong tâm trong lúc hành thiền và trong các hoạt động hàng ngày. Đểthể hiện tình thương yêu này, người Phật tử luôn tự nhắc nhở bản thân về hạnhnguyện Bồ tát: “Chúng sanh vô số lượng, thệ nguyện đều độ khắp”.

Tại sao người ta cưới nhau, tại sao người ta cần bạn bè? Khi người ta ởmột mình, người ta sẽ rất cô đơn, cho nên họ cưới nhau để thiết lập mối quan hệgiữa họ với người họ thương yêu. Người nam và người nữ cần bạn bè để thiết lậpmối quan hệ. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ là: Chúng ta luôn nhận ra những mối quan hệgần, nhưng lại không nhận ra những mối quan hệ xa. Chúng ta thấy mình cần mộtngười bạn, nhưng cùng lúc đó mình lại thấy không cần những người khác, nhữngngười mà mình không xem là bạn. Chúng ta có thể cố gắng với tất cả khả năng củamình để bảo vệ bạn, nhưng cùng lúc đó chúng ta có thể cố gắng tìm cách để hạingười khác, những người không được xem là bạn, mà là kẻ thù của chúng ta. Tuynhiên, bạn hay thù thì cũng giống như âm với dương. Dương không thể nào tồn tạinếu không có âm và âm không thể nào tồn tại nếu không có dương, cũng như ngườinam và người nữ không thể chia lìa nhau được. Bạn và thù cũng như thế. Ai khiếncho một người trở thành bạn bè hay kẻ thù? Chính chúng ta. Nếu chúng ta thayđổi thái độ của mình đối với người khác, nếu chúng ta đối xử tử tế với ngườikhác, thì người kia, thậm chí hiện giờ đang là kẻ thù của ta, cũng sẽ thay đổithái độ của họ đối với ta và dần dần trở thành bạn bè của nhau. Ngược lại, nếuta không đối xử tử tế với ai đó, thậm chí hiện giờ người đó đang là người bạntốt nhất của ta, thì sớm muộn gì người đó cũng sẽ trở thành kẻ thù. Chúng taphải biết rằng, bạn và thù chỉ đơn thuần khác nhau về mức độ quan hệ giữa haingười và ta là những người đã tạo ra điều đó.

Như đã đề cập ởtrên, mọi người sống trong thế giới này đều có quan hệ hỗ tương lẫn nhau. Mọicá nhân đều cần bạn bè. Tình bạn không chỉ tồn tại giữa con người với nhau, màcòn giữa con người với động vật, giữa con người với thiên nhiên. Nhiều ngườinuôi các con vật, như chó, mèo, cá, chim, rùa,… Một số người còn nuôi cả rắn,và những con vật cưng ít thấy khác. Việc nuôi vật cưng để thỏa mãn nhu cầu kếtbạn không chỉ cần thiết cho con người mà cho cả con vật và thiên nhiên nữa. Đểduy trì những mối quan hệ ấy và phát triển chúng, đạo Phật khuyên mọi người cầnphải hiểu vị thế của người khác, phải phát triển sự hiểu biết lẫn nhau. Đây làbước đầu tiên và quan trọng nhất.

Để giữ được mối quan hệ tốt đẹp giữa mình với người khác, chúng ta cầnphải tôn trọng lẫn nhau. Đây là bước thứ hai. Khi chúng ta gặp nhau, theotruyền thống của đạo Phật thì cả hai bên đều chắp tay và cúi đầu chào để bày tỏlòng kính trọng với nhau. Sự cúi đầu này nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta phảitôn trọng lẫn nhau bởi vì tất cả chúng ta đều trở thành những vị Phật trongtương lai. Nếu chúng ta kính trọng người khác thì họ cũng sẽ kính trọng vàthương yêu chúng ta.

Bước thứ ba trong quá trình đảm bảo mối quan hệ tốt đẹp hơn với ngườikhác là phải trung thực. Chúng ta phải trung thực với chính mình và với ngườikhác. Nhờ vậy mà sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau nảy sinh. Trung thực vớichính mình và với người khác sẽ vun đắp cho mối quan hệ giữa mọi người vớinhau, giữa mình với người khác.

Một người không thể nào tồn tại đơn lẻ trong cõi đời này, cũng vậy, mộtgia đình không thể nào tồn tại đơn lẻ được. Gia đình là một phần của cộng đồng,cộng đồng là một phần của xã hội và xã hội là một phần của nhân loại. Phật giáođã nhận thấy được tính nhất thể của xã hội loài người, bởi vì một gia đình, mộtthành phố, một đất nước không thể nào tồn tại đơn lẻ. Tất cả chúng ta đều giúpđỡ lẫn nhau và liên hệ với nhau. Theo Phật giáo, nếu chúng ta muốn thế giới hòabình thì chúng ta phải có sự an bình trong tâm mình trước đã. Nếu chúng ta muốnxã hội được hòa hợp, hạnh phúc thì chúng ta phải khiến cho tâm ta được địnhtĩnh, bình an và hoàn thiện bản thân mình trước.

Theo quan điểm phương Tây, người ta tin rằng, muốn có hòa bình thì phảichiến đấu, vì theo họ, hòa bình nên là một sự hòa bình trong chiến thắng vàdanh giá. Họ lập luận rằng, hãy xây dựng lực lượng quân sự, chúng ta sẽ xâydựng được hòa bình. Đây có thể là một phương pháp, nhưng mà chúng ta có nhiềuphương thức khác nhau. Nếu chúng ta đi theo đường hướng của đạo Phật, thì trướchết chúng ta phải có được sự an bình trong tâm hồn, trong cuộc sống của chúngta. Khi tâm ta an bình, đời sống an bình, chính ta được an bình thì sẽ tác độngđến người khác để phát triển những tâm hồn bình an, những gia đình hòa hợp,những xã hội hòa bình, và chúng ta có được sự hòa bình lâu dài.

Đức Phật dạy rằng, sự hòa bình lâu dàikhông bao giờ có thể được tạo nên bởi sự thù hận, khủng bố hay chiến tranh. Sựhòa bình được xây dựng trên sự hung hăng, chống đối sẽ không thể kéo dài được.Như Đại đế A Dục, một vị hoàng đế Phật tử của xã hội Ấn Độ cổ đại đã nói: “Hậnthù không thể nào được chấm đứt bằng chiến tranh, hận thù chỉ có thể chấm dứtbằng tình thương yêu”. Đức Phật dạy rằng, nếu chúng ta muốn chấm dứt chiếntranh, chúng ta không thể dùng chiến tranh; nếu chúng ta muốn chấm dứt thù hận,chúng ta không thể nào dùng thù hận. Cách duy nhất để chấm dứt cái vòng thùhận, giết chóc tồi tệ ấy là sử dụng một sức mạnh hiệu nghiệm hơn, sức mạnh củatình thương yêu. Thông qua tình thương yêu, lòng bao dung, sự hiểu biết và tôntrọng lẫn nhau mà chúng ta có thể chiến thắng kẻ thù. Theo cách này, chúng tachuyển hóa những kẻ thù của chúng ta thành bạn bè. Cách tốt nhất để tạo dựngmột thế giới hòa bình là thông qua sự tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau giữa ngườivới người, giữa những cộng đồng, những quốc gia với nhau.

(Trích dịch từ sách “Zen philosophy, Zen practice”của HT. Thích Thiên Ân, Dharma Publishing andColloge of Oriental studies xuất bản, America, 1975).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 17103)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14730)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16130)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12118)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11036)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11551)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7459)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8636)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8012)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.
14/02/2021(Xem: 10430)
Nhân đọc bài về tuổi già của Đỗ Hồng Ngọc Bác sĩ y khoa, tôi mỉm cười. Mình cũng thuộc tuổi già rồi đấy!! Các bạn mình cũng dùng chữ ACCC= ăn chơi chờ chết vì vượt qua ngưỡng tuổi 70 rồi. Vậy theo BS Ngọc là làm như vậy cũng thực tế đó nhưng có thật là hạnh phúc tuổi già không? Bạn có đủ hết, con cái thì hết lo cho chúng được nữa rồi, chúng tự lo lấy chúng. Tiền bạc thì hết lo được nữa rồi có bấy nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.