Cảm niệm Thánh Đản

13/04/201105:23(Xem: 11430)
Cảm niệm Thánh Đản
Phat Dan Sanh 21
CẢM NIỆM THÁNH ĐẢN

Như Đức

Tháng tư, những cây phượng vẫn còn nở đỏ rực. Đi ngang con sông thấy nhánh phượng gie bên bờ, một vầng hoa đỏ như ngọc chói chang trong nắng. Tôi chợt nhớ đến Ngọc Phượng, bạn cùng lớp hồi xưa và nhớ luôn Thu Thảo ngồi cạnh nó. Hai đứa như hai thái cực. Thu Thảo thì hiền lành ít nói, suốt buổi học chẳng thấy hé môi, còn ngọc Phượng thì tía lia không ngớt. Vì sự đối nghịch đó mà bạn bè thường nhớ hai đứa một lần. Riêng Thu Thảo có một cái họ rất lạ. Ngày đầu tiên nghe cô giáo kêu tên Lục Thu Thảo, cả lớp quay ngược quay xuôi để ngó mặt nó. Con nhỏ cũng cừ, bị bạn bè chọc ghẹo là bà con của Lục Vân Tiên, lục nồi, lục bình... gì gì đi nữa, nó vẫn làm thinh. Chỉ có một lần, khi cô dạy văn giảng hai câu thơ của bà Huyện Thanh quan: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nền cũ lâu đài bóng tịch dương... nó bị đổi tên thành Hồn Thu Thảo. Chúng tôi vừa kêu vừa cười như mọi lần, nhưng nó đứng lên thưa cô, nó nói chữ lục là màu xanh trong, ba nó dặn nó như thế. Cô giáo cũng đồng ý và rầy cả lớp, không được chọc ghẹo tầm bậy. Chúng tôi mới biết nó tuy ít nói nhưng không phải dễ chịu thua.

Ký ức về Phượng và Thảo đối với tôi không phải dừng ở chỗ tên họ. Chúng tôi thường học bài chung với nhau ở sân chùa, và vào những ngày lễ vía hay rằm lớn, quý cô hay đem cho xôi chè, trái cây. Đó là những món quà thần tiên, như trái ổi hay chùm mận hái được từ vườn chùa. Đặc biệt vào những dịp lễ Phật Đản chúng tôi như hòa vào không khí chuẩn bị tươi vui, Phượng và Thảo có khi ở lại ăn cơm, ngủ lại với tôi. Trang trí vườn Lâm-tỳ-ni là chuyện thích nhất. Chúng tôi làm hoa giấy, kết vào những chậu hoa đặt chung quanh chỗ Phật đản sanh, kết thành chuỗi treo chung với hoa lài, hoa sứ, học làm đèn hoa sen, dự lễ phóng đăng, lễ tắm Phật. Mỗi đứa được múc nước thơm tưới lên tượng sơ sinh. Không khí trầm hương nhã nhạc, thôi không nói làm gì, nỗi vui mừng chào đón Đản sanh mỗi năm đều lặp lại mà chúng tôi vẫn ưa thích.

Khi lớn lên, biết suy xét, Ngọc Phượng chia sẻ với tôi những suy tư của nó, cũng trong một dịp Phật Đản. Nó vốn là cây triết lý của lớp ban C, nên trích dẫn xa gần mấy câu thơ: “Tôi bước vào đời như loài thảo mộc. Rồi bỗng lớn lên như lũ thú rừng...”. Bài thơ nói đến thân phận người, sinh ra tình cờ như cỏ cây, không chủ động đời sống, không biết phải làm gì trong thế giới này. Rồi đến kết cuộc... “Sáng sáng dừng chân nhìn quanh lớp học. Nhìn lại đời mình buồn đến thế ư?” Tôi biết bài thơ này của N.X.H. bạn bè trong lớp cũng có đứa thuộc. Nhưng Phượng đi xa hơn, nó nói đó là sự tìm kiếm, sự than vãn, và đặt câu hỏi về sự toàn vẹn. Chỉ có một người có thể trả lời, đó là đức Phật. Với một người như thế, với một đời sống bắt đầu và kết thúc đều có mục đích hướng đi rõ cũng như thế thì ngày sinh nhật của vị ấy mình tổ chức long trọng, chào mừng vui vẻ. Có những tiệc tùng sinh nhật mà mình tham dự một cách ngán ngẩm vì không biết kẻ ấy ra sao. Cách nói của Phượng, bạn bè trong lớp vẫn gọi nó là cụ non, nhưng chúng tôi phải công nhận nó đúng.

Thời gian chia cách đã lâu. Giữa chúng tôi có những dòng thay đổi, có những dòng đời chưa kịp chạm đến đã đi xa. Thu Thảo bây giờ chắc đang độ mùa thu, không còn như thuở xanh trong, đứng giữa lớp cãi lý cho một mầu lục non. Phượng cũng không còn đỏ rực. Chúng tôi đều đi vào tuổi tri thiên mệnh. Ở tuổi này Khổng Tử cho rằng người ta đã sáng suốt, tỉnh táo, biết sống thuận lẽ đạo. Tôi đi theo con đường của Đức phật, càng lúc cùng cảm nhận điều đó. Một vị Phật ngay từ khi vào đời, đã biết được lẽ minh triết trong cuộc sống, không đợi phải đi qua tuần tự thời gian. Ngày trẻ tuổi chúng tôi vẫn thường lý luận về đạo, nhưng vẫn vấp phải vô số lỗi lầm, nếu nhìn lui vô số đời, ắt là si mê vô cùng, giữa những quờ quạng mệt nhọc không biết bao lần hỏi “Đời mình buồn đến thế ư?” Khi đức Phật ra đời, ánh sáng thắp lên giữa rừng đêm tối, thả xuống sông đời chiếc thuyền cứu độ. Biết bao người nhẹ nhàng sống trong ánh sáng của bậc đạo sư. Thấy biết được việc làm của mình, biết giá trị sự có mặt của chính mình, và biết sống không đến nỗi uổng đời. Những điều đó nếu không đi theo sự chỉ dạy của Phật, nếu đóa hoa Đàm không một lần xuất hiện, chúng ta vẫn không ngừng than khổ. Tôi muốn chia sẻ cảm nhận và niềm tri âm sâu xa đức Phật, với bạn bè cùng thời, như Phượng chẳng hạn.

Biết lý luận, đặt câu hỏi và biết người giải đáp câu hỏi, nhưng Phượng có thể không tìm nó ngay dưới chân đức Phật. Trong đời sống, giữa những phức tạp đa đoan, vào một ngay thật bình thường, ta chợt nhận ra ánh sáng bình minh của lễ Thánh Đản.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/01/2021(Xem: 14942)
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Với một nước nông nghiệp như nước ta, hình ảnh con trâu nặng nề lầm lũi, kềnh càng cục mịch luôn gắn bó với những cánh đồng thửa ruộng, thân thiết với bao người nông dân chân lấm tay bùn, và gần gũi với lũ trẻ mục đồng thường nghêu ngao bài hát quen thuộc “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!”… Không chỉ như thế, trâu cũng đã từng gắn bó với cuộc đời một vài danh nhân lịch sử như Đinh Bộ Lĩnh, Đào Duy Từ… Đối với nền văn học nước nhà, con trâu còn có cái công rất lớn trong việc làm phong phú ngôn ngữ, nhất là trong ca dao- đồng dao-tục ngữ.
01/01/2021(Xem: 11539)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12274)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12747)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11726)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11860)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12562)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 12038)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11604)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 10455)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.