San Sẻ Yêu Thương

16/02/201105:04(Xem: 11087)
San Sẻ Yêu Thương

SAN SẺ YÊU THƯƠNG
Tác giả: Thái Hồng Minh
NXB: Văn hóa Thông tin
Khổ sách: 13x19cm
Độ dày: 144 trang


sanseyeuthuong_thaihongminh

THAY LỜI TỰA

Tôi đã băn khoăn rất lâu trước khi viết tập sách này vì không mấy tự tin vào khả năng diễn đạt kém cỏi của mình. Mặc dù vậy, tôi vẫn không sao cưỡng lại được sự thôi thúc muốn chia sẻ cùng bạn đọc món quà tặng vô cùng quý giá mà tôi đã nhận được từ cuộc sống. Không, để chính xác hơn, có lẽ tôi phải nói là vô giá, vì quả thật là không ai có thể dùng tiền bạc để mua được một món quà như thế!

Món quà mà tôi muốn nói đến ở đây chính là niềm vui có được từ sự yêu thương trong cuộc sống. Niềm vui ấy hoàn toàn không giống như những niềm vui mà chúng ta có được qua việc thỏa mãn các nhu cầu vật chất. Nhưng không phải bao giờ chúng ta cũng phân biệt được điều ấy, và vì thế mà sự nhầm lẫn rất thường xảy ra. Trước đây tôi cũng thường nhầm lẫn như thế, và điều đó làm tôi mất đi rất nhiều cơ hội để có được niềm vui thực sự. Vì thế, tôi rất muốn chia sẻ điều ấy cùng các bạn.

Bạn đọc thân mến! Tôi không nghĩ những điều mình sắp viết ra đây là những lời khuyên răn hay những bài học có giá trị, nhưng chúng thực sự là những kinh nghiệm của chính bản thân tôi. Để có được những điều này, tôi đã phải trả giá bằng sự va chạm và trải nghiệm. Vì thế, khi chia sẻ cùng các bạn, tôi chỉ hy vọng duy nhất một điều là có thể giúp ích được các bạn ít nhiều trong những trường hợp tương tự như tôi đã từng vấp phải.

Yêu thương là một khái niệm trừu tượng rất khó định nghĩa. Mặc dù vậy, tất cả chúng ta đều dễ dàng cảm nhận được sự yêu thương. Nhưng cảm nhận được sự yêu thương là một việc, và hiểu được thế nào là sự yêu thương chân thật lại là một việc khác. Khi chúng ta không phân biệt được sự khác nhau giữa hai khái niệm này, chúng ta rất dễ rơi vào sai lệch. Và vì thế, đôi khi chúng ta có thể vô tình làm tổn thương chính những người mà ta yêu thương nhất. Nếu bạn hiểu được thế nào là sự yêu thương chân thật, thì điều đáng tiếc ấy chắc chắn sẽ không xảy ra. Hơn thế nữa, sự hiểu biết này còn giúp bảo vệ lòng thương yêu của bạn không bị đổi thay vì ngoại cảnh.

Yêu thương và được yêu thương là hai mặt không tách rời nhau của cùng một vấn đề. Khi bạn yêu thương, bạn cũng đồng thời nhận được sự thương yêu. Nhiều người than phiền rằng họ yêu thương rất nhiều nhưng không nhận được sự yêu thương tương xứng từ người khác. Thật ra, những ai cảm thấy như thế chỉ là vì họ chưa có sự yêu thương chân thật. Cái mà họ ngỡ là lòng thương yêu theo cách đó chỉ là sự biểu hiện của lòng vị kỷ. Họ luôn đòi hỏi, kỳ vọng ở người khác điều này, điều nọ... Và do sự đòi hỏi, kỳ vọng đó mà họ mới ứng xử ra vẻ như là đang yêu thương. Khi sự đòi hỏi, kỳ vọng của họ không đạt được vì những lý do nào đó, họ sẽ không hài lòng, và cái gọi là tình thương của họ sẽ nhanh chóng tan đi như bọt nước.

Sự thật là, khi chúng ta yêu thương, chúng ta không cần đòi hỏi bất cứ một sự đền đáp nào. Nhưng ngay khi ta có được lòng thương yêu thì bản thân điều đó đã là một sự đền đáp xứng đáng. Bởi vì khi tình thương thấm đẫm trong ta, niềm vui và hạnh phúc cũng sẽ đồng thời có mặt. Chúng ta không thể tìm được niềm vui và hạnh phúc quý giá này nếu như chúng ta không mở lòng yêu thương người khác.

Ngược lại, khi ai đó thương yêu bạn, bạn chỉ có thể cảm nhận được điều này khi trong lòng bạn có sự hiện hữu của tình thương. Nếu không, bạn chỉ có thể nhận được những biểu hiện vật chất của tình thương từ người ấy mà thôi. Cho nên, khi bạn cảm nhận được tình thương yêu từ người khác thì điều đó cũng có nghĩa là trong lòng bạn đã có được tình thương. Trong ý nghĩa đó, thương yêu và được thương yêu không thể là hai vấn đề tách biệt.

Bạn đọc thân mến! Tôi vẫn biết là cuộc sống của mỗi chúng ta còn rất nhiều điều để lo toan, bận rộn, và việc dành thời gian để suy ngẫm về những giá trị tinh thần phía sau lớp vỏ vật chất không phải là thói quen của nhiều người. Dù vậy, tôi vẫn luôn cho rằng bài học về yêu thương là bài học lớn nhất của đời người – và chúng ta không thể tìm thấy bất cứ người thầy dạy nào khác tốt hơn là chính những điều ta trải nghiệm được trong cuộc sống. Vì thế, những gì được ghi lại trong tập sách này chỉ là những ý tưởng rất chủ quan, những nhận xét rất phiến diện... Nếu bạn nhận thấy có chút giá trị nhỏ nhoi nào trong ấy, thì đó sẽ là những điều đang chờ đợi sự thể nghiệm và kiểm chứng của chính bản thân các bạn ngay trong cuộc sống này.

Bạn đọc thân mến! Tôi luôn mong đợi câu trả lời tốt đẹp từ các bạn.

Thân mến,
THÁI HỒNG MINH

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/01/2021(Xem: 14918)
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Với một nước nông nghiệp như nước ta, hình ảnh con trâu nặng nề lầm lũi, kềnh càng cục mịch luôn gắn bó với những cánh đồng thửa ruộng, thân thiết với bao người nông dân chân lấm tay bùn, và gần gũi với lũ trẻ mục đồng thường nghêu ngao bài hát quen thuộc “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!”… Không chỉ như thế, trâu cũng đã từng gắn bó với cuộc đời một vài danh nhân lịch sử như Đinh Bộ Lĩnh, Đào Duy Từ… Đối với nền văn học nước nhà, con trâu còn có cái công rất lớn trong việc làm phong phú ngôn ngữ, nhất là trong ca dao- đồng dao-tục ngữ.
01/01/2021(Xem: 11409)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12255)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12721)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11703)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11842)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12543)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 12022)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11594)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 10446)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.