An Lạc Từng Bước Chân

20/01/201103:30(Xem: 27145)
An Lạc Từng Bước Chân

AN LẠC TỪNG BƯỚC CHÂN

Phương Pháp thực Tập Hạnh Phúc

Thích Nhất Hạnh

Chân Nguyện dịch từ bản Anh ngữ
Nhà Xuất Bản Lá Bối, Hoa Kỳ, 1995

an-lac-tung-buoc-chan-content

Mục Lục

Lời tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Lời giới thiệu

Phần 1

HƠI THỞ Ý THỨC

HƠI THỞ MẦU NHIỆM

Hai Mươi Bốn Giờ Tinh Khôi

Cây Bồ Công Anh

Hơi Thở Ý Thức

Hiện tại

Bớt Suy Nghĩ Lại.

Nuôi Dưỡng Chánh Niệm Trong Từng Phút Giây

Ngồi Đâu Cũng Là Ngồi Thiền

Thiền tọa

Chuông Chánh Điện

Chiếc Bánh Thời Thơ Ấu

Bí Tích Thánh Thể

Ăn Cơm Chánh Niệm

Rửa Chén

Thiền Hành

Thiền Điện Thoại

Thiền Lái Xe

Quay Về Một Mối

Cắt Cỏ Và Thở

Vô Nguyện

Đời Sống Là Một Tác Phẩm Nghệ Thuật

Hy Vọng Trông Chờ Đôi Khi Là Một Trở Ngại

Bông hoa và nụ cười ngài Ca Diếp

Phòng Thở

Cuộc hành trình vẫn tiếp tục

Phần hai

CHUYỂN HÓA VÀ TRỊ LIỆU

Dòng Sông Cảm Thọ

Không Cắt Bỏ

Chuyển Hóa Những Cảm Thọ

Ý Thức Về Cái Giận

Đập gối để trút cái giận

Đi thiền hành khi đang giận

Luộc khoai

Nguồn gốc của cái giận

Nội Kết

Sống Chung Hòa Hợp

Bàn Tay Của Bạn

Cha Mẹ

Giữ Gìn Và Nuôi Dưỡng Những Hạt Giống Tốt

Tiếp Xúc Với Những Gì Mầu Nhiệm

Trách Móc Không Giúp Được Gì

Hiểu Và Thương

Tình Thương Chân Thật

Từ Bi Quán

Thiền ôm

Đầu Tư Vào Tăng Thân

Cháu chắt là niềm vui của ông bà

Tăng Thân Tu Học

Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời

Phần ba

AN LẠC TỪNG BƯỚC CHÂN

Tương Tức

Hoa Và Rác

Vững Chãi Thảnh Thơi

Tinh Thần Bất Nhị

Chữa Trị Những Vết Thương Chiến Tranh

Trái Tim Mặt Trời

Nhìn Sâu

Nghệ Thuật Sống Tỉnh Thức

Nuôi Dưỡng Chánh Niệm

Bức Thư Tình

Bổn Phận Người Công Dân

Bảo vệ thân tâm là giữ gìn sinh môi một cách rộng lớn.

Nguồn Gốc Chiến Tranh

Câu Chuyện Chiếc Lá

Chúng Ta Cùng Một Nhân Thể

Hòa Giải

Hãy Gọi Đúng Tên Tôi

Khổ Đau Là Chất Liệu Nuôi Dưỡng Tình Thương

Tình Thương Qua Hành Động

Câu Chuyện Của Dòng Sông

Xây Dựng Thế Kỷ Thứ Hai Mươi Mốt

Lời tựa của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Muốn đem lại hòa bình cho thế giới, trước hết mỗi người chúng ta phải tự chuyển hoá chính mình. Đó là con đường cam go nhưng không còn con đường nào khác. Đi tới đâu tôi cũng nhắc nhở điều đó và tôi sung sướng khi thấy nhiều người từ nhiều tầng lớp cũng đồng quan điểm này. An Lạc phải bắt đầu từ nơi mỗi chúng ta mà từ, bi, hỉ, xảlà nền tảng. Có từ, bi, hỉ, xả, thì đi đâu ta cũng gieo rắc tình thương và sự hoà hợp, đi đâu ta cũng đem an lạc, hạnh phúc đến cho mọi người và mọi loài.
Cuốn sách An Lạc Từng Bước Chân của thầy Nhất Hạnh là kim chỉ nam cho mỗi chúng ta trên con đường cam go ấy. Thầy dạy phép quán niệm hơi thở để giúp ta giữ sự an lạc của thân tâm và thấy được sự liên hệ mật thiết giữa sự an lạc của thân tâm ta và của thế giới. Đây là một cuốn sách giá trị, có thể thay đổi được hoàn cảnh xã hội và đời sống một con người.

Lời giới thiệu

Của nhà Xuất bản PARALLAX, Hoa Kỳ

Sáng nay khi đi thiền hành qua khu rừng sồi xanh tươi, tôi thấy mặt trời đỏ chói hiện ra ở chân trời. Quang cảnh rực rỡ làm tôi nhớ lại chuyến đi Ấn Độ với thầy Nhất Hạnh hai năm về trước. Trên con đường đi đến một cái đồng gần Bồ Đề Đạo Tràng, cả phái đoàn dừng lại nghỉ chân trước một cánh đồng lúa và cùng nhau hát bài ca này:

Từng bước chân thảnh thơi
Mặt trời như trái tim đỏ tươi
Từng đóa hoa mỉm cười
Ruộng đồng xanh mát như biển khơi
Cùng gió ca lời chim
Từng bước chân thảnh thơi
Đường dài em bước như dạo chơi

Bài ca gói ghém được những gì thầy muốn nhắn nhủ chúng ta: an lạc không phải là một cái gì ở ngoài chúng ta mà chúng ta phải tìm kiếm hay mong đạt tới. An lạc có ngay trong mỗi bước chân thong thả, trong từng hơi thở, trong đời sống có chánh niệm hàng ngày . Bước được những bước thảnh thơi, an lạc, ta sẻ thấy hoa nở dưới từng bước chân đi. Hoa mỉm cười với ta và chúc ta đi thong dong trên đường dài.

Tôi gặp Thầy Nhất Hạnh năm 1982 khi thầy đến New York dự hội nghị Tôn Trọng và Bảo Vệ Sự Sống .Tôi là một trong những người Mỹ theo đạo Bụt mà thầy được gặp trước tiên. Khi gặp tôi, Thầy đặc biệt chú ý đến tôi , có lẽ vì cách tôi ăn mặc và hành xử giống như mấy chú tiểu ở Việt Nam mà Thầy có dịp dạy dỗ cách đây hai mươi năm. Năm 1983, Thầy tôi là Richard Baker Roshi mời Thầy đến viếng thiền viện của chúng tôi ở San Francisco, Thầy vui vẻ nhận lời. Một giai đoạn mới bắt đầu trong đời sống của vị tu sĩ hiền hòa mà Roshi gọi là " điểm gặp gở kỳ lạ giữa một đám mây, một con ốc sên và một cái đầu máy xe lửa . Thầy đúng là một bậc chân tu".

Thầy Nhất Hạnh sinh năm 1926 tại miền Trung Việt Nam và đi tu lúc Thầy mười sáu tuổi. Tám năm sau. Thầy cùng một số thầy khác thành lập chùa Ấn Quang mà sau này là Phật Học Viện Nam việt.

Thầy đến Hoa Kỳ năm 1961 để học và dạy về Các Tôn Giáo tại đại học Columbia và Princeton. Năm 1963, các thầy ở Việt Nam đánh điện gọi Thầy về để cùng xây dựng giáo hội và tranh đấu chống chiến tranh leo thang sau khi chính phủ Diệm bị lật đổ. Thầy trở về nước và hướng dẫn một phong trào bất bạo động theo đường lối của Gandhi.
Năm 1964. Thầy cùng một số giáo sư và sinh viên đại học thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mà báo chí Mỹ gọi là " một tiểu đội quân Hòa Bình" . Trường tổ chức một nhóm người trẻ đi về miền quê để xây dựng bệnh xá, trường học và làm lại những ngôi làng bị bom tàn phá. Lúc bây giờ đã có trên 10.000 người gồm tu sĩ và giới trẻ làm việc cho chương trình này. Cũng trong năm ấy. Thầy thành lập nhà xuất bản Lá Bối, một trong những nhà xuất bản có tiếng tăm ở Việt Nam, và làm chủ bút tuần báo Hải Triều Âm, cơ quan thông tin của Giáo Hội Phật Giáo. Thầy viết bài và viết sách kêu gọi hai bên lâm chiến hòa giải, vì vậy mà sách của Thầy bị cả hai phe kiểm duyệt gắt gao.

Năm 1966, theo lời khuyên của các thầy lớn, Thầy rời Việt Nam đi Hoa Kỳ theo lời mời của hội Fellowship of Reconciliation và trường đại học Cornell. Tờ New York số ngày 25 tháng 6- 1966 viết: "Thầy Nhất hạnh đến Hoa Kỳ để nói lên tiếng nói đau thương của số đông những người dân bị đàn áp ở Việt Nam". Chương trình của Thầy dầy đặc những cuộc gặp gỡ và những buổi nói chuyện kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh.. Tiến sĩ Martin Luther King, Jr rất cảm kích tấm lòng nhân đạo tha thiết của Thầy. Ông đã đề nghị trao giải Nobel Hòa Bình năm 1967 cho Thầy Nhất Hạnh. Ông nói: "Tôi thấy không còn ai xứng đáng hơn ". Ông đã dự cuộc hộp báo chống chiến tranh với Thầy Nhất Hạnh tại Chicago.

Khi Thomas Merton, nhà thần học Công Giáo nổi tiếng, gặp Thầy Nhất Hạnh tại tu viện của ông ở Gethsemani, Kentucky, ông bảo với các học trò của ông Chỉ nhìn cách Thầy ấy mở cửa và đi vào phòng cũng đủ biết Thầy là một bậc chân tu. Merton sau đó còn viết thêm một bài báo lấy tựa đề "Thầy Nhất hạnh là người anh em của tôi " . Cho nên mọi lời kêu gọi hòa bình của Thầy Nhất Hạnh điều được ông hưởng ứng và ủng hộ hết mình. Sau khi gặp một số các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ như Fullbright. Kennedy và bộ trưởng Quốc Phòng Mc Namara. Thầy bay qua Âu Châu. Nơi đây Thầy cũng được một số yếu nhân trong chính phủ và Toà Thánh La Mã tiếp kiến . Thầy đã hai lần yết kiến Hồng Y Giáo Chủ Paul V1, đề nghị những người Thiên Chúa giáo và Phật giáo hợp tác với nhau để đem lại hòa bình cho Việt Nam .

Năm 1969, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất yêu cầu Thầy hướng dẫn phái đoàn hòa bình của Phật Giáo bên cạnh hội nghị Paris.Sau khi bản hòa ước được ký năm 1973, Thầy không được phép trở về nước. Thầy bắt đầu cuộc đời lưu vong, thành lập Phương Vân Am cách Paris một ngàn dậm về hướng Tây Nam. Năm 1976-1977. Thầy tổ chức vượt biển cứu trợ những thuyền nhân ở Vịnh Thái Lan, nhưng chính quyền Thái Lan gây nhiều khó khăn không cho Thầy tiếp tục công viện này. Thầy lui về trú ẩn ở Phương Vân Am, tiếp tục viết sách, đọc sách, đóng sách, làm vườn và lâu lâu tiếp bạn bè.

Năm 1982, Thầy sang thăm New York. Qua năm sau. Thầy thành lập Làng Hồng, một trung tâm tu học gần Bordeaux, một vùng êm đềm với vườn nho, ruộng bắp và những cánh đồng hoa hướng dương bao quanh. Bắt đầu từ năm 1983, năm nào Thầy cũng sang Hoa Kỳ để hướng dẫn những khóa tu học và đi giảng thuyết về sự thực tập chánh niệm để có an lạc ngay trong giờ phút hiện tại.
Mặc dầu Thầy không được về nước, nhưng sách của Thầy được chuyền tay chép và đọc bởi nhiều tầng lớp ở Việt Nam. Thầy cũng có mặt khắp nơi trên thế giới, qua những người học trò và cộng sự viên của Thầy ngày đêm làm việc để giúp đỡ những trẻ em và người lớn đói khổ ở Việt Nam, Thầy cũng tìm mọi cách để khuyến khích giúp đở giới văn nhân, nghệ sĩ cũng như những nhà tu bị chính quyền cộng sản giam giữ. Cả những người tỵ nạn tại các trại tập trung ở Thái Lan, Mã Lai và Hồng Kông cũng được giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần .
Bây giờ trông Thầy đã lớn tuổi nhưng trông thầy vẫn còn trẻ lắm. Hiện nay Thầy là một trong những vị thiền sư lớn của thời đại. Giữa một xã hội vật chất hối hả và đầy danh vọng, sự tự tại và tươi mát của Thầy trong cách đi đứng và dạy người khác đi đứng khiến Thầy được tiếp đón như một vị Giác Ngộ. Bằng những phép giản dị và sáng sủa, Thầy đưa ra những phép thực tập sâu sắc thực chứng từ sự hành trì và phụng sự không mệt mỏi của Thầy.

Thầy dạy phép quan niệm hơi thở vì phương pháp này có khả năng giúp ta nuôi dưỡng chánh niệm trong mỗi sinh hoạt của đời sống hàng ngày. Thầy nói thiền quán không phải chỉ được thực tập trong thiền đường. Việc rửa nồi hay rửa chén bát cũng thiêng liêng như khi mình thấp hương lạy Bụt. Thầy cũng dạy cách mỉm cười để làm thư dãn những bắp thịt trên mặt cũng như của toàn thân. "Cười là tập yoga cho cái miệng", Thầy nói: "Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy là khi ta thực tập tỏ một niềm vui thì những bắp thịt trên mặt liền tác động trên hệ thần kinh của ta khiến ta tự nhiên thấy vui thật sự. Thầy luôn nhắc nhở rằng an lạc và hạnh phúc là một cái gì có thật. Chỉ cần biết ngưng cái đầu óc chạy hoang và trở về với giây phút hiện tại, thấy rõ bầu trời xanh, nụ cười của em bé và cảnh mặt trời lặn là chúng ta đã có an lạc và hạnh phúc, biết mỉm cười, thì mọi cười trong gia đình, trong xã hội cũng được thừa hưỡng".

Cuốn An Lạc Từng Bước Chân là một tiếng chuông tỉnh thức, nhắc nhở ta đừng vì đời sống bận rộn mà đánh mất sự an lạc; nếu ta có chánh niệm thì ngay giữa những phiền toái và bực bội, ta vẫn có thể thong dong. Tiếng điện thoại reo ầm ĩ, chén bát dơ, những nạn kẹt xe hay đèn đỏ , tất cả đều là những người bạn giúp ta trên con đường thực tập chánh niệm, giúp ta quay trở về với con người thật của ta. Muốn có an lạc, hạnh phúc, ta sẽ có ngay khi ta thở từng hơi thở ý thức, khi ta nở nụ cười chánh niệm .

Cuốn An Lạc Từng Bước Chân được góp nhặt từ những bài viết, những buổi nói chuyện của Thầy với công chúng hay với một nhóm bạn nhỏ trong đó có Therese Fitzgerald, Michael Katz, Jane Hirshfield, tôi và nhiều bạn khác đã và đang làm việc chặt chẽ với Thầy.

Cuốn sách này là bức thông điệp đầy đủ và rõ ràng nhất của một vị Bồ Tát đã suốt đời hiến mình cho sự nghiệp giác ngộ. Lời Thầy dạy vừa thực tiễn vừa súc tích. Mong rằng các độc giả sẽ hài lòng cũng như chúng tôi rất sung sướng khi xuất bản nó.

Arnold Kotler
Xóm Thượng tháng 6, 1990

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14650)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20814)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 18153)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15570)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 17451)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 13203)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11969)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12713)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8938)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9433)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.