Tu Tuệ

12/04/201310:15(Xem: 21387)
Tu Tuệ

Đức Đạt Lai Lạt Ma
TU TUỆ
Bản tiếng Anh: Practicing Wisdom - Nhà xuất bản Wisdom
Bản tiếng Pháp: Pratique de la Sagesse
Nhà xuất bản Presses du Châtelet
Bản dịch Việt ngữ: Hoang Phong
Nhà xuất bản Phương Đông TP. Hồ Chí Minh 2008

Tái bản: Nhà xuất bản Hồng Đức năm 2013

TU_TUE_FINAL_bia_2

MỤCLỤC

Lờinói đầu (Thupten Jinpa)
Lờighi chú của người dịch sang tiếng Việt

1Dẫn nhập

Pháthuy một động lực tinh khiết
Trínăng và lòng tin
Vănbản cội rễ
2Bối cảnh Phật giáo

Khung cảnh lịch sử
Con đường tu tập Phật giáo
Nguyêntắc về nhân quả và bốn sự thực cao quý
Ba loại khổ đau
Tiềmnăng giải thoát
Những nguyên nhân tương liên
Sự hiểu biết
Căn bản của sự thành công
3Hai sự thật

Sự cần thiết phải hiểu được Tánh không
Định nghĩa
Hiệnthực và sự nhận biết bằng trí năng
Nhữnggiai đoạn tuần tự cần thiết giúp tìm hiểu hai sự thực
Giốngnhau và khác biệt
Hailoại vô ngã
Nhữngquy ước đúng và những quy ước sai
Hệthống thuật ngữ
Tánhkhông và lòng Từ bi
Hailoại cá thể con người
4Phủ nhận những quan điểm hiện thực của Tiểu thừa

Suytư về vô thường
Chiếnthắng tình trạng bất toại nguyện dai dẵng của ta
Phủnhận những hình tướng bên ngoài
Nhữngđiều xứng đáng và sự tái sinh
Điềuthiện và điều ác
Ta-bàvà Niết-bàn
5Các Quan điểm của học phái Duy thức

Thếgiới bên ngoài
Trithức tự nhận biết lấy chính nó
Vượtra khỏi sự bám níu vào cái « ngã »
Tâmthức và ảo giác
Tìmhiểu về Trung đạo
6Tính cách đích thực của Đại thừa

Làmphát sinh các nguyên nhân của hạnh phúc
Hainền văn hoá tâm linh
Tínhcách đích thực của Đại thừa và Tánh không
Phậttính và tam thân
Ảnhhưởng của sự hiểu biết siêu nhiên
Nguồngốc kinh sách Đại thừa
Sựtìm tòi cá nhân
7Tánh không theo học phái Trung luận

Tâmthức của người A-la-hán
Thựchiện được Tánh không là một điều cần thiết để tựgiải thoát khỏi luân hồi
Hiểubiết Tánh không theo Cụ duyên tông (Prasangika) và Y tự khởitông (Svatantrika)
Cáccấp bậc khác nhau của Tánh không về con người
Batiết tiếp theo
Tánhkhông là một chiếc chìa khoá
Vôngã đối với con người
Sựxác định về cái tôi phải được phủ nhận
Khôngthể tìm thấy cái « tôi »
8Bản chất và sự hiện hữu của cái «tôi»

Lòngtừ bi xuất phát từ sự thực hiện Tánh không
Sứcmạnh của lòng từ bi
Chiaxẻ khổ đau với kẻ khác
Thựcthi từng bước một
Phủnhận quan điểm ngoài Phật giáo về « cái tôi » hay « cáingã »
Sựliên tục của một « cái tôi » quy ước
Tâmthức có phải là « cái tôi » hay không ?
Duytrì một thế giới tương đối
9Bản chất của mọi hiện tượng

Tổngthể và những thành phần của nó
Cácvật thể hiện hữu như thế nào ?
Vượtlên trên sự hiểu biết trí thức
Lòngnhiệt tâm chủ yếu cho việc tu tập và nghị lực
Tậptrung suy tư vào tánh không của giác cảm
Chútâm vào Tánh không của tâm thức
Chútâm vào Tánh không của mọi hiện tượng
10Phủ nhận những điều bác bỏ

Nhữngtạo dựng nhi nguyên
Kẻsáng tạo tối hậu
Bênhvực về hai sự thật
Phủnhận những quan điểm về thực tại
Tầmquan trọng của trí năng
Nghiệpvà nhân quả
11Những luận cứ then chốt để phủ nhận khái niệm hiệnhữu tự tại của mọi hiện tượng

Luậncứ về những mảnh vỡ của kim cương
Haithể loại nguyên nhân
Tiếptục những luận cứ về những mãnh vỡ của kim cương
Luậncứ quan trọng về những nguồn gốc tương liên
Luậncứ liên quan đến hiện-hữu và phi-hiện-hữu
Ướcvọng thực hiện được sự hiểu biết siêu nhiên về Tánhkhông
12Phát huy tâm thức giác ngộ

Yêuthương kẻ khác là một sự lợi ích
Làmphát sinh tâm thức giác ngộ
Ghichú

Thưmục

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 16688)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14264)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 15998)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12041)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 10911)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11487)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7378)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8582)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 7889)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.
14/02/2021(Xem: 10363)
Nhân đọc bài về tuổi già của Đỗ Hồng Ngọc Bác sĩ y khoa, tôi mỉm cười. Mình cũng thuộc tuổi già rồi đấy!! Các bạn mình cũng dùng chữ ACCC= ăn chơi chờ chết vì vượt qua ngưỡng tuổi 70 rồi. Vậy theo BS Ngọc là làm như vậy cũng thực tế đó nhưng có thật là hạnh phúc tuổi già không? Bạn có đủ hết, con cái thì hết lo cho chúng được nữa rồi, chúng tự lo lấy chúng. Tiền bạc thì hết lo được nữa rồi có bấy nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.