Lễ Tang trong Thiền

10/04/201301:54(Xem: 9041)
Lễ Tang trong Thiền
LỄ TANG TRONG THIỀN
Sa-môn Giác Nhường 

Khi Trưởng lão HT.Thích Giác Dũng còn sinh tiền, ngài thường dạy, "Tu thì phải đi trong thiền, đứng trong thiền, ngồi trong thiền, làm trong thiền, nói trong thiền… chứ không phải đợi ngồi mới thiền".

Lời dạy đó đã thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày của Trưởng lão, cuộc sống của ngài thật đơn sơ, giản dị, pháp ngữ mộc mạc, nhưng ý nghĩa thâm túy, kẻ sơ người trí đều có thể lãnh hội được ý pháp qua những lời mộc mạc đó.

Khi trì bình khất thực, lúc tọa thiền… thậm chí khi Trưởng lão cầm chổi quét sân đều thể hiện pháp tướng trang nghiêm, toát lên hương vị an lạc, giải thoát, tự tại trong đời sống của ngài.

Vào đầu năm nay, khi ngài biết duyên tứ đại bất hòa, nên đã dạy chư vị đệ tử khi ngài viên tịch, tang lễ không tổ chức long trọng, không để tang, không cúng tuần thất rình rang... mà "Tăng chúng tưởng nhớ sư thì tập trung ngồi thiền".

Hôm nay, ngài đã nhẹ phủi trần duyên, rảo bước về chốn chơn như bất sinh bất diệt. Lễ tang Trưởng lão, Ban Tổ chức đã thực hiện đúng theo ý chỉ giáo huấn của ngài. Tang lễ thật đơn giản, nhưng vô cùng trang nghiêm, diễn ra trong không gian thanh tịnh của thiền môn.

Trầm lắng. Tĩnh lặng, dù hàng trăm phái đoàn các tổ chức đoàn thể: chính quyền, tôn giáo bạn, chư tôn đức Giáo phẩm vả hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử về viếng và đảnh lễ Giác linh Trưởng lão, nhưng tất cả đều diễn ra trong không khí trang nghiêm thanh tịnh. Thay vì các nghi thức tụng kinh cầu nguyện thì Tăng Ni và Phật tử luân phiên ngồi thiền an trú trong chánh định để tưởng niệm ân đức của ngài.

Lễ tang thật đơn giản, thật trang nghiêm tĩnh lặng như một khóa tu thiền. Lời di ngôn của Trưởng lão đã được thực hiện. Tông môn đệ tử Giáo đoàn III - Phật giáo Khất sĩ kính nguyện Giác linh Trưởng lão thùy từ chứng giám.

Một số hình ảnh thiền tọa trang nghiêm, thể theo di ngôn cố Trưởng lão HT.Thích Giác Dũng:

Th04

Kính lễ giác linh

Th05

Tưởng nhớ trong chánh định

Th13


Hòa thượngTHÍCH GIÁCDŨNG, thế danh Lê Mỹ, sinh ngày: 15-8-1929, quê quán: H.An Nhơn, tỉnh Bình Định, Uỷ viên Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh GHPGVN nhiệm kỳ VII, nguyên Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN nhiệm kỳ 2002 - 2012, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ V và VI (2007 - 2013), nguyên Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đắk Lắk từ năm 1992 - 2007, Trưởng giáo đoàn III (Hệ phái Khất sĩ) từ năm 2001 - 2013, Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQVN nhiệm kỳ VII, Ủy viên Ủy ban MTTQVN tỉnh ĐăkLăk từ 1986 - 2013, nguyên Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Đắk Lắk từ năm 1996 - 2006, Viện chủ tịnh xá Ngọc Quang (TP.Buôn Mê Thuột).

(Giác Ngộ)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/10/2015(Xem: 13473)
Tôi nhận được email, nhắn tin, điện thoại mỗi ngày. Nhiều lắm. Trong số đó có những thắc mắc, những trăn trở và đây là một trong rất nhiều số đó. “Con xin phép hỏi thầy 1 câu ạ: các nhà sư khi xuất gia (đã thành đại đức và là trụ trì 1 ngôi chùa) thì có được phép ăn mặn và uống rượu bia không ạ. Vì con có tìm hiểu và biết rằng Phập Pháp rất tốt cho bản thân con và những người xung quanh nên con có tham gia 1 câu lạc bộ phật tử ở tỉnh Nam Định (quê con ạ) và có theo 1 thầy đại đức. Nhưng hóa ra con mới biết là thầy không ăn chay mà cũng thi thoảng uống rượu, bia. Theo thầy Hùng thì con có nên theo thầy đại đức này không ạ?”
03/10/2015(Xem: 31614)
Bằng nguyện lực của Tam Bảo Tối Thượng đáng tin cậy Và chân lý của tinh thần trách nhiệm toàn cầu của chúng con, Nguyện cho Phật pháp quý báu lan rộng và hưng thịnh Ở mọi vùng đất, theo chiều dài và chiều rộng của phương Tây.
03/10/2015(Xem: 14930)
(1) Nền tảng của mọi phẩm chất tốt đẹp là vị bổn sư tử tế, hoàn hảo và thanh tịnh; Sùng mộ ngài một cách đúng đắn là cội nguồn của đường tu. Nhờ thấy rõ điều này và gắng sức, Xin hộ trì cho con thành kính nương tựa nơi ngài.
03/10/2015(Xem: 14642)
Một trong những mục đích chính của việc tranh luân trong khi tu học Phật pháp là để giúp bạn phát triển nhận thức quả quyết (nges-shes). Bạn sẽ chọn một quan điểm và người đối tác trong cuộc tranh luận sẽ thách thức quan điểm này bằng nhiều quan điểm khác nhau.
03/10/2015(Xem: 14778)
Xin đảnh lễ chư đạo sư đáng tôn kính nhất! (1) Tôi sẽ hết lòng giảng giải, Các điểm trọng yếu trong tất cả Kinh điển của Đấng Chiến Thắng, Đường tu được tất cả chư Bồ tát thiện hảo tán thán, Cửa ngõ cho những người may mắn mong cầu giải thoát.
03/10/2015(Xem: 13734)
Một ngày nọ, khi Milarepa đang ở trong hang động một mình thì hai vị khách tìm đến hỏi han. - Ông ở một mình à? Ông không thấy cô đơn sao? - Tôi luôn luôn sống với một người nào đó, không bao giờ đơn độc. Ngài trả lời. - Nhưng ông sống với ai? Người trẻ tuổi hơn trong hai người hỏi ngài.
03/10/2015(Xem: 16020)
Mối quan hệ sâu đậm với một vị thầy tâm linh có thể là sự nối kết thăng hoa và quan trọng nhất trong một đời người. Nó cũng có thể là nguồn gốc của sự lừa dối bản thân, đau đớn và tuyệt vọng tinh thần. Tất cả đều dựa vào việc chủ động tạo ra một quan hệ lành mạnh. Điều này lại tùy thuộc vào một thái độ thực tiễn về trình độ của chính mình và vị thầy, về mục đích, động lực và ranh giới của mối quan hệ.
03/10/2015(Xem: 16715)
Milarepa có một người chị cứ khăng khăng bảo ngài đi cưới vợ, xây nhà và sinh con, nhưng ngài đã bỏ nhà ra đi và gặp vị thầy của mình là Marpa. Khi chị của ngài biết rằng Marpa đã lập gia đình, bà càng ép buộc Milarepa hơn nữa.
03/10/2015(Xem: 14331)
Trong Hiện Quán Trang Nghiêm Luận (mNgon-rtogs rgyan, tiếng Phạn, Abhisamayalamkara), Đức Di Lặc đã liệt kê bốn mươi sáu lỗi lầm ảnh hưởng đến việc phát triển trí tuệ tương ứng với căn cơ của chư Bồ tát (sbyor-ba’i skyon). Những lỗi lầm này có thể xảy ra trong tâm thức của một Bồ tát thánh nhân từ sơ địa cho đến thất địa, như đã được trình bày theo hệ thống trong sơ đồ của trường phái Y Tự Khởi (Svatantrika). Mặc dù chúng đã được trình bày theo hệ thống bằng cách nghiên cứu văn học Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamita, Far-reaching Discriminating Awareness, Perfection of Wisdom), các lỗi lầm này cũng có thể liên quan đến những khía cạnh khác trong việc tu học và hành trì.
03/10/2015(Xem: 20077)
Tiểu sử của một lama vĩ đại được gọi là “namtar” (rnam-thar), một tiểu sử mang tính cách giải thoát, vì nó tạo nguồn cảm hứng cho người nghe noi theo gương của ngài để đạt được giải thoát và giác ngộ. Tiểu sử của ngài Tông Khách Ba (Tsongkhapa) (rJe Tsong-kha-pa Blo-bzang grags-pa) (1357-1419) thật sự gây nhiều cảm hứng.