Cái ‘nhất’ đáng buồn

10/04/201504:05(Xem: 14961)
Cái ‘nhất’ đáng buồn

thit cho
Cái ‘nhất’ đáng buồn




Lần đầu tiên cùng mấy người bạn nước ngoài về thăm Hà Nội vào đầu thập niên 90, tôi vẫn không quên những tấm bảng nguệch ngoạc hai chữ “Thịt Cầy” cùng mấy chú cầy nướng treo lủng lẳng trước dăm ba quán ăn nhỏ trên đường từ phi trường vào trung tâm thủ đô. 

Biết mấy anh bạn da trắng vốn kỵ thịt chó, tôi bảo họ rằng đấy là những quán bán “thịt nai”! Mãi sau thì họ khám phá ra được và phì cười bảo rằng những con nai của tôi là… “nai biết sủa” (barking deer).

Một lần khác xem một cuốn phim ngắn của Việt Nam trong một kỳ đại hội phim ảnh quốc tế ở Singapore, kể lại chuyện một cặp vợ chồng mở một quán thịt chó với những hình ảnh không mấy đẹp của những chú chó vô tội bị xả thịt, lột da, chất đống và nướng ngay trên mặt đường. Chưa hết phim mà hầu hết khán giả người da trắng đều đứng dậy bỏ ra về. 

Với người Tây phương thì việc ăn thịt chó là một điều kinh tởm và là dấu hiệu của một quốc gia chậm tiến, man rợ.  Do đó, để giữ thể diện quốc gia, trước Thế Vận Hội 2008 tại Bắc Kinh, nhà nước Trung Quốc đã buộc 112 nhà hàng bảo trợ phải dẹp món thịt cầy trong thực đơn để tránh làm cho du khách nước ngoài kinh hoàng mà có ác cảm với dân Trung Quốc.  Sau đó thì một đạo luật được dự thảo vào đầu năm 2010 nhằm cấm ăn thịt chó với mức phạt tù 15 ngày cho những người vi phạm. 

Tại hai vùng nói tiếng Hoa là Hong Kong và Đài Loan thì đã có những thay đổi sớm hơn.  Dưới thời cai quản của Anh quốc, Hong Kong đã ban hành một đạo luật cấm làm thịt chó mèo từ năm 1950.  Năm 1980, một người Hong Kong bị xử phạt một tháng tù và 2.000 đô HK về tội săn lùng chó hoang để làm thịt. Ở Đài Loan thì dưới áp lực của các hội bảo vệ súc vật địa phương cũng như để giữ hình ảnh đẹp với thế giới, chính quyền đã ban hành một đạo luật cấm bán thịt chó từ năm 2001 với mức phạt gần 8 nghìn USD nếu vi phạm.

Tại những nước khác trong vùng thì Indonesia là xứ Hồi giáo xem thịt chó cũng như thịt heo là những món ăn không tinh khiết nên những chú khuyển ở xứ này được sống thọ. Thái Lan vốn là một quốc gia Phật giáo không có truyền thống ăn thịt chó và dân Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines cũng không thích nhậu thịt cầy. Nam Triều Tiên lại là một xứ có truyền thống này nhưng từ năm 1984 thì một đạo luật được ban hành cấm bán thịt chó tại thủ đô Seoul, tuy nhiên luật này dường như chỉ được áp dụng chặt chẽ trong khoảng thời gian Thế Vận Hội 1988 tại Seoul. 

Tại các nước phương Tây thì chó luôn được xem là người bạn tốt nhất của con người nên việc giết thịt bị xem là phạm luật và dưới mắt người dân là một hành động dã man không thể tha thứ được.  Riêng ở Bắc Mỹ  có lẽ chỉ có Canada là xứ cho phép bán thịt chó, với điều kiện là việc xả thịt chú khuyển phải có sự hiện diện của kiểm tra viên nhà nước, nếu không thì người phạm tội sẽ bị phạt đến 5 năm tù.


Trên trang web của các tổ chức bảo vệ súc vật trên thế giới thời gian gần đây tôi thấy Việt Nam là nước bị nhắc đến nhiều nhất với con số thật khó tin: năm triệu chú chó bị xả thịt mỗi năm hay 13 ngàn chú chó vong mạng mỗi ngày. Nước ta từ lâu đã là điểm đến của những con chó bị buôn bán từ các nước xung quanh. Tuy việc nhập lậu chó vào Việt Nam bị xem là bất hợp pháp từ năm 2009 nhưng vì nguồn lực hạn chế nên vẫn còn tình trạng Thái Lan, Campuchia và Lào cung cấp chó cho Việt Nam. Việc buôn bán này vi phạm các biện pháp quốc gia phòng chống dịch bệnh động vật và trái với kiến nghị toàn cầu về việc kiểm soát và tiệt trừ bệnh dại.

Chúng ta rất hãnh diện khi Việt Nam được thế giới khen ngợi về một số lĩnh vực, thế nhưng có một số điều nhạy cảm trong đó có việc ăn thịt chó, khiến Việt Nam đã mất đi ít nhiều thiện cảm dưới con mắt của người nước ngoài. Đứng đầu bảng những nước ăn thịt chó quả là điều không hãnh diện chút nào, nếu không nói là xấu hổ.  

Ngày trước có những thứ như tục đốt pháo vào dịp Tết hoặc việc đội nón bảo hiểm khi đi xe máy, tưởng chừng không thể thay đổi được thế nhưng mọi việc đã được đưa vào khuôn khổ thì nên chăng đến lúc cần nhìn lại cái "nhất" đáng buồn này. ​Đầu tháng 4, các tổ chức bảo vệ súc vật quốc tế đã phát động chiến dịch toàn cầu “Nói không với thịt chó”, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tham gia ủng hộ chiến dịch này.

Võ Tá Hân

vnexpress.net

_________________________


Xem thêm:

Chuyện lạ về lời dặn của hòa thượng 'vì sao không nên ăn thịt chó'

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/01/2021(Xem: 14915)
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Với một nước nông nghiệp như nước ta, hình ảnh con trâu nặng nề lầm lũi, kềnh càng cục mịch luôn gắn bó với những cánh đồng thửa ruộng, thân thiết với bao người nông dân chân lấm tay bùn, và gần gũi với lũ trẻ mục đồng thường nghêu ngao bài hát quen thuộc “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!”… Không chỉ như thế, trâu cũng đã từng gắn bó với cuộc đời một vài danh nhân lịch sử như Đinh Bộ Lĩnh, Đào Duy Từ… Đối với nền văn học nước nhà, con trâu còn có cái công rất lớn trong việc làm phong phú ngôn ngữ, nhất là trong ca dao- đồng dao-tục ngữ.
01/01/2021(Xem: 11406)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12253)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12721)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11703)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11841)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12539)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 12021)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11594)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 10444)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.