Giây phút định mệnh

24/07/201502:05(Xem: 10549)
Giây phút định mệnh
Xuat gia gieo duyen

GIÂY PHÚT ĐỊNH MỆNH 
Thiện Ý



Chúng ta mỗi ngày quyết định không biết bao nhiêu việc và phần nhiều là những chuyện không quan trọng. Nhưng có đôi lúc, một quyết định nhỏ có thể ảnh hưởng không chỉ chính mình, mà còn lan rộng đến mọi người chung quanh, như gia đình, bà con, dòng họ, bạn bè, và đôi khi, cả những thế hệ về sau. 
Đối với chúng ta khi ấy, quyết định đó chỉ là chuyện nhỏ, tầm thường. Nhưng nó thật ra là một quyết định có tính định mệnh trong giây phút đó.  
 
Cho nên khi mình đối diện với những chuyện sanh phiền não, bực giận, oán thù mình phải cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định làm một chuyện gì.  Trong lúc mình đang nông nỗi, mình thích làm một chuyện gì đó để giải tỏa sự căng thẳng, bực tức trong tâm mình, và đây là chuyện dễ làm vì mình có thể làm được ngay.  Nhưng mình phải tự nhắc rằng đây là giây phút quyết định quan trọng.  Nó có thể gây ra những việc nghiêm trọng cho mình và cho người khác.  Mình phải chấp nhận khó khăn, kỷ luật bản thân để không làm điều có hại về sau. 

Sự đau đớn, khó chịu trong lúc mình phải khép mình theo giới luật Phật dạy ít đau đớn hơn cái đau khổ khi mình hối hận về điều mình đã làm trong phút giây định mệnh đó!  Mình cảm thấy mãn nguyện với quyết định về cách hành xữ để thỏa mãn lòng giận hờn, ghen tức của mình và nó có thể mang đến sự khoái trá, hả hê tạm bợ khi đó.  Nhưng kết quả của hành động nông nổi đó sẽ có thể đem đến khổ đau lâu dài về sau. 
 
Trong tâm mình khi ấy sẽ nói rằng:  ‘Chuyện này là chuyện nhỏ, không hệ trọng gì cả.  Nhưng, nếu mình không làm vậy, họ sẽ khinh thường mình!’ Mình đừng nghe những lời dụ dỗ dối trá đó.  Nó sẽ khiến anh làm bậy, xâm phạm những nguyên tắc căn bản đạo đức mà mình lâu nay trân quý, giữ gìn, và sẽ hối tiếc lâu dài về sau.

Câu chuyện về một đứa con chuẩn bị ra trường và trong nhiều tháng anh ta ngắm nghía một chiếc xe thể thao trong phòng trưng bày của một đại lý bán xe ô tô.  Biết rằng cha mình có thể mua nổi chiếc xe đó, nên anh đã ám chỉ cho cha anh ta biết về món quà ra trường mà anh thích nhất.  Ngày ra trường, anh mong chờ một dấu hiệu cho thấy cha mình đã mua chiếc xe đó rồi.  
 
Cuối cùng, sáng hôm đó cha anh gọi anh vào phòng riêng và nói rằng, ông rất hảnh diện vì anh và đưa tặng anh một món quà gói trong một chiếc hộp thật đẹp. Háo hức, nhưng hơi thất vọng anh mở món quà ra, và trong đó anh thấy một quyển kinh thánh bọc bằng da thật đẹp.  Tức giận vô cùng vì không thấy món quà mình yêu thích, anh bật la lớn, “Cha giàu như vậy mà chỉ cho con cái thứ này thôi ư?” Và anh giận dữ bỏ chạy ra khỏi nhà, bỏ lại quyển kinh thánh trên bàn.

Sau nhiều năm từ cha, đi biệt vì giận cha mình đã không mua chiếc xe mới như đã hứa.  Một hôm, anh nhận được tin cha anh vừa mới qua đời, và mọi người mong anh về kế thừa sự nghiệp.  Khi anh về đến nhà, nhìn lại cảnh xưa thì một nỗi buồn man mác xâm chiềm hồn anh. Lục lọi trong phòng của cha, anh thấy quyển kinh thánh xưa vẫn còn đó.  Nước mắt tuôn rơi, anh lần giở những trang kinh, và bất ngờ, thấy một phong thư giấu bên trong.  Khi mở ra, anh thấy một cặp chìa khóa xe và một hoá đơn còn mới toanh với dòng chử in đậm “ĐÃ TRẢ XONG HẾT”, của tiệm bán chiếc ô tô anh khao khát khi ra trường. 

Đọc câu chuyện trên, chúng ta mới thấy rằng, đã bao nhiêu lần mình đã hành xử hấp tấp, nóng vội vì những cảm xúc mạnh khi đó.  Và đã bao nhiêu lần mình đã hối hận vì những quyết định nông nổi, sai lầm trên trong suốt cuộc đời mình.   Khi bắt đầu một ngày, mình nên cầu nguyện chư Phật, chư Bồ tát gia hộ cho mình giữ vững tâm bồ đề, tỉnh giác, chánh niệm, không quyết định làm những chuyện sai trái với lương tâm.  
 
Nhớ rằng, mọi chuyện đều bắt đầu bằng một ý nghĩ trong tâm.  Đây chính là trận địa, nơi quyết định sự chiến thắng hay thất bại của mình.  Phật dạy: “ Tránh xa những ý tưởng bất thiện” (chư ác mạc tác) vì nếu mình để cho chúng mọc rễ, và phát triển trong tâm, sớm muộn gì mình cũng sẽ làm theo chúng.

Như trong sách Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ đề cương của Pháp sư Thích Từ Thông: “ Khi Ngài A Nan đi khất thực ngang nhà Ma Đăng Già là một gái làng chơi. Nàng ta bèn dùng tà chú Tiên Phạm Thiên của đạo Saticala bắt ông vào phòng riêng dụng ý lẳng lơ, diễn trò má dựa vai kề, nâng niu âu yếm, làm cho ông A Nan gần mất giới thể ..”  
 
Thực tình mà nói, rất có thể là Ngài A Nan gần trong gang tấc, suýt mất giới thể vì bị sự cám dỗ dục lạc quá mạnh.  Nhưng trong giây phút định mệnh đó,  Ngài nhớ đến đức Phật, và nhờ vậy mà Ngài vượt thoát được sự cám dổ kinh khiếp của Nàng Ma Đăng Già.  Nếu Ngài A Nan phá giới, thì hôm nay chúng ta có thể đã không có đủ tam tạng kinh điển để mà nghiên cứu, tu học, và cũng có thể là không có cả hàng ngũ Ni giới như ngày hôm nay.  Nên nhớ rằng, muốn sống đời an lạc, chân thật mình phải vượt qua được những thử thách.

Rất là dễ dàng cho ta trong đời quyết định một chuyện gì đó căn cứ theo tình cảm, hay cảm xúc của mình lúc đó và nhượng bộ, cũng như chìu theo ý thích của mình.  Nhưng nếu mình muốn đạt được đỉnh cao trong cuộc đời thì mình phải thành công vượt qua những thách đố và học cách tránh rơi vào những cái bẩy của sự cám dỗ dục lạc, và những quyết định sai lầm mà sẽ khiến mình hối hận suốt đời và đánh mất giá trị con người mình.  
 
Cám dỗ luôn có mặt khắp nơi và đủ loại – nào là cám dỗ dụ mình bỏ cuộc, dụ mình nhụt chí, dụ mình đổi đen thành trắng, dụ mình làm bậy để xóa những sai lầm do chính mình tạo ra.  Để cưỡng lại những cám dỗ trên, không phải là điều dễ dàng.  Cho nên hành trì, tu niệm thường xuyên sẽ giúp mình vượt qua những cám dỗ của tâm thức, hoặc theo thói quen đã chứa sẵn trong tâm thức. Nên Tổ Huệ Năng có dạy: “Nếu nói về Phật tánh thì không có gì khác biệt giữa một kẻ ngu và một ông thánh. Một niệm giác ngộ thì người đó sẽ thành Phật. Một niệm si mê thì người kia sẽ thành một kẻ ngu.”

Sở dĩ, Phật dạy mình phải luôn tỉnh giác, chánh niệm là để giúp mình tránh được những giây phút quyết định sai lầm, mà theo tập khí quen thuộc, có thể dễ dàng thực hiện.  Như ông bà mình thường dạy:  Một khi mà ly nước đầy đã hất đổ xuống đất thì khó mà hốt lại được nữa! Cho nên, để tránh được những sai lầm này chúng ta phải luôn tỉnh giác, đặc biệt là trong những lúc mình đang xúc động dâng trào.  
 
Con người, ai cũng có tình cảm nhưng nếu chỉ dựa vào những cảm thọ để hành xử thì chúng ta sẽ làm nhiều điều sai quấy và sẽ hối hận không nguôi. Nên một trong bốn căn bản của thiền quán (quán thân, quán thọ, quán tâm, và quán pháp) mà Phật đã dạy, là quán sát cảm thọ của mình.  Trong Kinh Trung Bộ số 10, có bài kệ dạy quán cảm thọ như sau:

Kế đến, quán cảm thọ
Là cảm giác thân, tâm
Gồm ba loại: Khổ, vui,
Và không vui không khổ.
Tuệ tri từng cảm thọ
Là nghe ngóng theo dõi
Sinh, trú diệt của nó
Chính niệm, gột tham ưu. 
(Ni sư Trí Hải dịch)   

Nhờ có chính niệm chúng ta tránh được những cảm thọ vui, khổ (tham ưu) khiến dẫn mình đến những quyết định sai trái.  Cho nên, tuệ tri hay thấy biết từng cảm thọ sẽ mang ta đến đạo lộ an lạc, giải thoát vì những quyết định sáng suốt, dù đôi lúc, mình phải cắn răng kham nhẫn để vượt qua những cám dỗ để thỏa mãn lòng mình trong nhất thời!  

Những cảm xúc thường ngày như sự cô đơn, lo sợ, buồn chán, hay hoảng sợ sẽ dễ khiến mình hành động nông nỗi.  Tuệ tri hay thấy biết những cảm thọ của mình, không phải là một cách sống che đậy, giấu kín, hay đè nén, mà là nhận biết, cảm thông, và tiếp cận với những xúc cảm mình đang trải nghiệm. 
 
Hầu hiểu rõ con người thật của mình và những thói quen hành xử dựa vào những cảm xúc trên. Những người thành danh trong đời đều phải trải qua những thử thách này.  Và chỉ khi nào họ vượt qua được những cám dỗ, những dằn vặt, khổ đau, và quyết định không nhượng bộ những sự cám dỗ đó để làm những điều trái với lương tâm nhằm thỏa mãn bản ngã của mình, thì họ mới thực sự là kẻ chiến thắng.     


Thiện Ý
 
(tháng 7, 2015)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/05/2021(Xem: 7667)
Một khi Đức Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng, ngài sẽ phải đối diện với nhiệm vụ khó khăn về việc nói với thế giới những gì đã xảy ra ở quê hương ngài và cố gắng để có được sự giúp đở cho người dân của ngài. Ngài cũng phải chạm trán với sự tuyên truyền của truyền thông Tàu Cộng rằng ngài đã bị bắt cóc. Tuy nhiên, nhu cầu thiết yếu nhất là để bảo đảm nhà ở và thực phẩm cho những người Tây Tạng đã đi theo ngài lưu vong. Ngài đã hướng đến chính phủ Ấn Độ, và họ đã không làm ngài thất vọng. Trong thực tế, Ấn Độ cuối cùng đã tiếp nhận hơn một trăm nghìn người tị nạn, cung cấp chỗ ở, và nuôi dưỡng họ, cho họ làm việc, và thiết lập những ngôi trường đặc biệt cho trẻ em Tây Tạng. Những tu viện Phật giáo Tây Tạng cũng được xây dựng ở Ấn Độ và Nepal.
30/04/2021(Xem: 11707)
Thưa Tôi. Hôm nay là ngày sinh nhật của Tôi, xin được phép thoát ra khỏi cái tôi để nhìn về tôi mà phán xét và đưa ra cảm nghĩ. Hình dạng tôi đã già rồi, tóc đã bạc hết cả đầu. Tôi đã trải qua một thời gian dài sinh sống làm việc và cuối đời nghỉ hưu. Tôi đã bắt đầu thấm thía cái vô thường của thời gian mang lại. Tôi cũng đã thấm thía cái sức khỏe đã đi xuống nhanh hơn đi lên. Tôi cũng đã thấm thía tình đời bạc bẽo cũng như tình cảm (Thọ) là nỗi khổ đau của nhân sinh. Tôi cũng đã hiểu rõ thế nào là ý nghĩa đích thực của cuộc sống, đó là bất khả tương nghị không thể thốt lên thành lời. Chỉ có im lặng là đúng nghĩa nhất. Ngày xưa khi lục tổ Huệ Năng của Thiền tông chạy trốn mang theo y bát thì thượng tọa Minh rượt đuổi theo để giết lấy lại. Đến khi gặp mặt thì lục tổ mang y bát ra để trên tảng đá rồi núp dưới tảng đá bảo thượng tọa Minh hãy lấy y bát đi mà tha chết cho người. Thượng tọa Mình lấy bát lên, nhắc không lên nổi vì nó quá nặng bèn sợ hãi mà quỳ xuống xin lục tổ tha c
30/04/2021(Xem: 13141)
Thiền Uyển Tập Anh chép Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu (933 – 1011) tu ở chùa Phật Đà, Thường Lạc nay là chùa Đại Bi núi Vệ Linh Sóc Sơn, Hà Nội. Ngài thuộc thế hệ thứ 4 Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngài người hương Cát Lợi huyện Thường Lạc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế (Ngô Quyền). Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Thiền sư Ngô Chân Lưu tên huý là Xương Tỷ, anh trai Thái tử - Sứ quân Ngô Xương Xý, con Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, cháu đích tôn của Ngô Vương Quyền. Ngài dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tánh tình phóng khoáng chí khí cao xa, có duyên với cửa Thiền từ năm 11 tuổi.
27/04/2021(Xem: 9188)
Tánh Không ra đời một thời gian dài sau khi đức Phật Nhập diệt do Bồ tát Long Thọ xiển dương qua Trung Quán Luận. Mặc dầu khi còn tại thế đức Phật có nói về Tánh Không qua kinh A hàm và Nikaya. Nơi đây Phật có nói về tánh xuất gia của hành giả đi tu. Hạng người tâm xuất gia mà thân không xuất gia thì gọi là cư sĩ. Và hạng người tâm và thân xuất gia thì gọi là tỳ kheo. Tánh Không cũng có hiện hữu trong kinh Tiểu không bộ kinh trung bộ. Phật có dạy: nầy Ananda, Ta nhờ ẩn trú Không nên nay ẩn trú rất nhiều. Kế tiếp Phật có dạy trong kinh A hàm về các pháp giả hợp vô thường như những bọt nước trôi trên sông: sự trống không của bọt nước.
27/04/2021(Xem: 7726)
Đêm yên tĩnh. Nhìn ra khung kiếng cửa sổ chỉ thấy một màu đen, đậm đặc. Cây cối, hàng giậu, lẳng hoa, bồn cỏ, ghế đá, và con đường ngoằn ngoèo trong công viên, có thể sẽ khó cho khách bộ hành nhận ra vị trí và thực chất của chúng. Cây bên đường có thể bị nhầm là kẻ trộm đối với cảnh sát, và sẽ là cảnh sát đối với kẻ trộm (1). Giây thừng hay con rắn. Con chim hay con quạ. Con sóc hay con mèo. Người hay quỉ. Mọi vật đều một màu đen. Trong bóng đêm, mọi thứ đều dễ trở nên ma mị, huyễn hoặc.
27/04/2021(Xem: 7658)
Cũng như tình trạng nghiêm trọng của Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi chỉ có thể theo đuổi một trong ba trường hợp – chiến đấu, bỏ chạy, hay đàm phán. Ngài có thể tập họp lại đội quân ít ỏi, vũ khí thô sơ, rèn luyện sơ sài và đưa họ đối mặt với một lực lượng quân sự mạnh mẽ vượt trội, biết rằng ngài gần như chắc chắn đang kết án tử hình cho đội quân của ngài và xứ sở của ngài cuối cùng sẽ bị đánh bại. Ngài có thể trốn chạy khỏi đất nước, nhưng như vậy sẽ để lại dân tộc ngài không có lãnh đạo và vẫn chịu sự thương hại của những kẻ xâm lược. Hay, ngài vẫn ở lại Tây Tạng và cố gắng để đàm phán một thỏa hiệp với Tàu Cộng để bảo vệ dân tộc ngài và nền văn hóa của họ. Để thực hiện một quyết định đúng đắn, ngài phải biết hơn về Trung Hoa.
27/04/2021(Xem: 11540)
Được sự cho phép của lãnh đạo chính quyền và sự trợ duyên của nam nữ Phật tử, câc nhà hảo tâm khắp nơi, chùa Diên Khánh đã khởi công trùng tu ngôi Tam Bảo vào ngày 12/3 năm Tân Sửu, nhưng kinh phí còn quá khiêm tốn, nên việc tái thiết trùng tu ngôi chánh điện đang dang dở, trì trệ... Nay nhà chùa một lần nữa tha thiết đăng lại bức "Thư Ngỏ", kính gửi lời đến quý đạo hữu, nhà hảo tâm, Phật tử gần xa để công việc trùng tu sớm được hoàn thành.
19/04/2021(Xem: 20882)
Phật Điển Phổ Thông DẪN VÀO TUỆ GIÁC PHẬT Common Buddhist Text: Guidance and Insight from theBuddha. Copyright by Mahachulalongkorn-rajavidyalaya (MCU). Chủ biên bản Việt ngữ: LÊ MẠNH THÁT - TUỆ SỸ Ban biên dịch: Thích Hạnh Viên, Thích Nữ Khánh Năng, Thích Thanh Hòa, Pháp Hiền Cư sỹ, Nguyễn Quốc Bình. Dịch Việt và Ấn hành với Hợp đồng chuyển nhượng bản quyền của Viện Đại Học Mahachulalongkorn-rajavidyalaya (MCU), Thái-lan, 2018. Nhà xuất bản Hồng Đức, 2019. Hương Tích ấn hành.
15/04/2021(Xem: 20962)
Bài viết này (phần B) cập nhật và tóm tắt buổi trình bày về bài viết "Tản mạn về tiếng Việt và Hán Việt: tại sao Trung Quốc dùng danh từ khoái 筷 còn Việt Nam dùng đũa (trợ 箸)?" tại hội thảo UNC2021_0116 tại Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN (sẽ diễn ra vào ngày 24/4/2021). Các trang bên dưới được trích từ các trang của Power Point Presentation, dựa vào bài viết đã đăng và dán lên đây theo dạng word cho dễ đọc hơn.
15/04/2021(Xem: 14763)
Chúng ta thường biết là Vi Diệu Pháp là Tạng của Nguyên Thủy áp dụng tu học ngày nay rất phổ biến. Tạng này cũng nói về Tâm và nghiên cứu sâu rộng. Riêng Đại Thừa thì có Duy Thức Luận cũng tương tự chỉ khác là có 2 thức Mạc Na Thức số 7 và Tạng Thức số 8. Vi Diệu Pháp là do Xá Lợi Phất giảng còn Duy Thức Luận là do Vô Trước Thế Thân giảng, tất cả đều do Bồ Tát mở rộng ra mà thôi và là Luận tức là luận bàn do qui từ nhiều kinh lại và không do Phật giảng. Xá lợi Phất giảng Vi Diệu Pháp do Phật giảng trên cõi trời cho mẹ của Phật còn Vô Trước Thế Thân giảng là do Phật Di Lạc giảng cũng trên cõi trời. Bài viết nầy chủ yếu đưa ra khái luận về Tâm Thức theo hai phái Nguyên Thủy và Đại Thừa dựa vào Phân Tâm Học ngày nay. Chúng ta nghiên cứu trên căn bản tâm lý học về tạng Vi Diệu Pháp và Duy Thức Luận.