Tắm Đạo

01/09/201508:14(Xem: 11418)
Tắm Đạo

onsen 3
TẮM ĐẠO

Tạ Thị Ngọc Thảo (Cát Tường Quân)

Khi ở trong ngôi nhà Nhật, sống với người Nhật trên đất nước Nhật và, được chủ nhà mời đi tắm, khách mới ngỡ ngàng nhận ra: Người Nhật không chỉ có “cung đạo”, “kiếm đạo”, “trà đạo”, “võ sĩ đạo”…, mà còn có “tắm đạo”!

Cơm chiều xong khách được chủ nhà trao cho một cái túi vải lớn hơn bàn tay, thêu hoa văn xinh xắn, đầu túi có dây gút, bên trong có cái khăn tay, tuýp kem đánh răng nhỏ, bàn chải và một hộp bằng đầu ngón tay cái đựng chút chất dẻo màu hồng. Chủ nhà còn trao tận tay khách bộ Yukata (giống Kymono nhưng mỏng hơn dành mặc mùa Hè), hướng dẫn cách mặc, rồi giúp khách bới tóc gọn gàng. Nhìn mình tươm tất trong gương, khách thưa: “Chúng ta đi tiếp khách à?”. Chủ thân thiện: “Hây, mời khách đi tắm tập thể ạ.”. Điếng hồn chưa!

Từ nhà của chủ đến nhà tắm công cộng đi bộ khoảng hơn 200 mét, dọc đường khách thấy có người trẻ, già, ăn mặc và trên tay cầm túi vải, giống mình. Dừng lại trước ngôi nhà kiến trúc giống resort, chủ nhà hòa nhã cúi chào mọi người rồi mua phiếu tắm; khoảng hơn 1.000 Yên/người (200 ngàn VNĐ, khoảng 10 USD) - Với thu nhập bình quân của Việt Nam 1.400 USD/ người; Nhật Bản 36.000 USD/người thì, giá 10 USD cho mỗi lần tắm là không cao - Bước vào nhà tắm một lượt với khách có 4 nam và 5 nữ. May sao, nam giới rẽ trái, nữ giới rẽ bên phải. Khách thở phào, nhưng chưa phải là nhẹ nhõm.

Khách chủ động lùi lại vài bước để quan sát bà chủ làm gì rồi mới làm theo. Khách còn để ý cả thao tác của những người khách nữ khác. Khách thấy bà chủ bỏ lại đôi guốc đang mang và không quên xếp nó ngay ngắn trên kệ rồi mang vào đôi dép của nhà tắm công cộng. Tiếp theo bà chủ chậm rãi tháo bộ Yukata xếp vào tủ, lấy cái khăn lớn có sẵn trong tủ quấn quanh người, bà khóa cửa tủ lại. Trên tay bà chủ giờ chỉ còn cái túi vải, bà thong thả tiến vào một cái cửa có che tấm màn màu hồng (nghe nói bên nam giới tấm màn này màu xanh); qua khỏi cái cửa đó bà chủ để đôi dép lại. Khách cũng nín thở làm theo.

Nhà tắm công cộng mở òa ra trước mắt, có người đã ngâm dưới hồ, có người còn đang tẩy uế; tất cả đều “trong suốt”. Khách rơi vào hoàn cảnh tiến không dám mà lùi không xong. Bình tĩnh, khách nhìn quanh rồi cặp mắt dừng lại nơi có những tấm ảnh minh họa cách tắm của người Nhật từ thời xa xưa. Nhờ vậy mới nhận ra:Tắm công cộng phải tuân thủ một quy trình nghiêm ngặt! Khi hiểu được văn hóa tắm tập thể của người Nhật, lập tức sự ái ngại giảm dần, khách hòa vào nhóm phụ nữ bản địa, lòng hoan hỷ, nhủ: Bây giờ phải nhớ quy trình tắm mà thực hiện, không được nhìn ai nữa vì, nhìn là khiếm nhã.

Như những vị khách nữ bản địa, khách ung dung tự tại trút bỏ cái khăn quấn quanh thân, bước thật khẽ đến nơi để ghế và chậu (ghế, chậu ở nhà tắm này làm bằng gỗ được đẽo gọt tinh tế) lấy một ghế cao, một ghế thấp và một cái chậu đem đặt nơi có một dãy kiếng, nhiều vòi nước cao thấp và kệ đựng hương liệu tắm, gội đủ loại, đủ màu sắc. Tại sao có nhiều ghế như vậy? Là vì, ghế thấp dùng vòi nước thấp để rửa chân, ghế cao dùng vòi nước cao để thanh tẩy thân thể; còn cái chậu để rửa mặt. Lúc này cái túi vải cầm theo mới được dịp phát huy tác dụng.

Lấy từ túi vải ra bàn chải và kem, khách chậm rãi đánh răng rồi lấy cái khăn ra đổ nước vào chậu rửa mặt. Đến cái đầu. Khách lấy vòi nước cao tưới lên tóc thực hiện quy trình gội đầu rồi ướp lên tóc một hương vị có mùi giống lá Sả, xong lấy cái khăn (mới rửa mặt) phủ lên tóc; để đó. Đến cái mặt. Cái hộp nhỏ có chất dẻo màu hồng trong túi vải được lấy ra thoa đều lên mặt theo vòng xoáy trôn ốc; lại để đó. Đến cái thân thể. Khách nhìn lên kệ thấy một dãy hương liệu tắm, chọn một mùi hương nhẹ bắt đầu tẩy uế từ cổ xuống chân. Xong, quay lại xả sạch tóc, sạch mặt, sạch thân thể, sạch bàn chân, ngón chân. Tất cả quy trình này khách không được đứng mà phải ngồi với hai chân khép, như vậy mới thanh lịch, như ảnh minh họa hướng dẫn tắm. Khi từ đầu tới chân đã thanh sạch, khách lấy cái khăn nhỏ che chỗ cần che rồi thận trọng bước xuống hồ. Khi nước ngập tới eo khách lấy khăn ra khỏi người đội trên đầu, bắt đầu ngâm nước nóng.

Onsen

onsen 2Mạch nước nóng tự nhiên (Onsen) là nguồn thu quan trọng của du lịch Nhật Bản

Hồ tắm được xây bằng gạch men xen với gỗ, hồ được thiết kế rất vệ sinh và thân thiện môi trường. Nguồn nước là mạch nước khoáng nóng tự nhiên (Onsen) hình thành từ những ngọn núi lửa đã hoặc đang hoạt động, nhiệt độ ổn định quanh năm (khác với Sentou là nước nấu nóng đổ vào bồn tắm). Nước tại nhà tắm này là nước khoáng nguyên chất, trị được nhiều bệnh, không chỉ chăm sóc cơ thể mà còn nuôi dưỡng tinh thần. Do vậy, dù gia đình nào cũng có nhà tắm nhưng đa số chọn nhà tắm công cộng như để cám ơn thân thể của mình sau một ngày làm việc căng thẳng. Khách tự hỏi: Tại sao lại phải “trong suốt” trong nhà tắm tập thể? Rồi tự trả lời: Khi không còn vướng vào cái che thân thì không còn cao - thấp, sang - hèn, dơ - sạch, thêm - bớt…

Cứ như vậy, người mới bước vào nhà tắm, người ngâm nước nóng xong ra về, người vừa thanh tẩy thân thể xong bước xuống hồ, không ai nhìn ai, không ai nói với ai, không ai nỡ gây tiếng động, tất cả như đang chiêm nghiệm, đang thiền động, đang “đối cảnh vô tâm”. Sự thụ hưởng này suy cho cùng cũng do hoàn cảnh sống. Một đất nước mưa không thuận, gió không hòa, liên tục thiên tai, đã tạo dựng cho người Nhật biết tận hưởng sâu sắc từng giờ từng phút sự bình an mong manh hiện có.

Khách còn cảm nhận và khâm phục tính cách của người Nhật: Không tỏ ra nổi bật cũng không thể hiện thấp kém, không ăn diện hơn cũng không nhếch nhác hơn; nhờ vậy giảm gây căng thẳng và hạn chế sự đố kỵ giữa người với người.

Trải nghiệm xong quy trình tắm, khách thấy mình như vừa thanh lọc thân tâm, không biết đặt tên là gì bèn gọi là “Tắm đạo”.

Không tự nhiên khách kể dài dòng về chuyện tắm (với người Việt Nam chúng ta, tắm là chuyện rất ư tế nhị), nhưng buộc phải kể là vì như thế này đây: Việt Nam của mình có nhiều mạch nước khoáng nóng, riêng Thừa Thiên Huế có vài nơi (Thuận An, Phong Điền, A Lưới,…). Thử nghĩ, nếu ở những nơi có mạch nước khoáng nóng, ta không chỉ đầu tư cơ sở vật chất mà còn xây dựng một quy trình tắm cho du khách lên tầm “Tắm đạo” (sạch thể chất và tâm hồn) thì, vừa gìn giữ và chia sẻ văn hóa thanh quý của người cố đô, văn hóa thanh sạch của người con Phật, vừa có thêm sản phẩm du lịch đặc sắc khác biệt và thêm việc làm cho người lao động, từ đó đương nhiên tăng nguồn thuế và tăng ngân sách địa phương.

Tắm đạo Thừa Thiên Huế - Tại sao không?

 

------------

(Bài đã đăng Báo Thừa Thiên Huế số ra ngày 2/9/2016)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/01/2021(Xem: 16283)
“Tha Nhân Là Địa Ngục” (L’enfre, cest les autres/Hell is other people) là câu nói thời danh của triết gia Pháp Jean Paul Sartre. Trong vở kịch nhan đề Huis Clos (Cửa Đóng) tiếng Anh dịch là “Không lối thoát” (No Exit) và tiếng Việt có nơi dịch là “Phía Sau Cửa Đóng” trong đó mô tả ba nhân vật lúc còn sống đã làm nhiều điều xấu. Khi chết bị nhốt vào địa ngục nhưng không phải là “địa ngục” với những cuộc tra tấn ghê rợn về thể xác mô tả trong các tôn giáo, mà bị nhốt vĩnh viễn trong một căn phòng kín. Tại đây ba nhân vật bất đồng, cãi vã nhau- không phải vì cơm áo mà vì quan điểm, sở thích, cách suy nghĩ, tư tưởng, lối sống. Cuối cùng một người không sao chịu đựng được đã thốt lên “Tha nhân là địa ngục”. Câu nói này trở nên nổi tiếng và tồn tại cho tới ngày nay.
07/01/2021(Xem: 14016)
Vào năm 2004, Thư Viện Anh Quốc đã mở cửa đón khách vào thưởng một “pháp bảo” của Phật giáo Trung Hoa mang tên “Kinh Kim Cang”, đó là một trong những cổ vật chính được trưng bày tại cuộc triển lãm “Con Đường Tơ Lụa. Bên cạnh cuốn “Kinh Kim Cang” còn có những cổ vật khác được giữ gìn hoàn hảo hơn 1000 năm qua như : một súc lụa, một tấm thảm trải trước lò sưởi tại ngôi nhà bỏ hoang đã 1.100 năm, một cuộn len 1300 năm tuổi … Phần lớn cổ vật trưng bày tại triển lãm được lấy từ bộ sưu tập của Sir Marc Aurel Stein.
07/01/2021(Xem: 11419)
Một khuôn mặt trong một tấm gương xuất hiện là một khuôn mặt, nhưng thế nào đi nữa hình ảnh đấy không là một khuôn mặt thật sự; đấy là từ những quan điểm trống rỗng về sự hiện hữu của một khuôn mặt. Giống như thế, một nhà huyển thuật có thể gợi lên những ảo ảnh dường như là những thứ thật sự. như một người ở trong một cái thùng bị xiên bởi một cây gươm, nhưng tất cả hoàn toàn không được tạo ra thật sự như những thứ được thấy. Tương tự thế, các hiện tượng như thân thể hiện diện được tạo ra từ chính phía của đối tượng nhưng trống rỗng trong việc được thiết lập cách ấy và luôn luôn như thế.
04/01/2021(Xem: 16063)
Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra nhận xét chính thức đầu tiên về việc nghỉ hưu, từ các trách nhiệm chính trị trong một buổi giảng dạy công khai tại Tsuglagkhang, Dharamshala, ngày 19 tháng 3 năm 2011. Năm 1963, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ban hành một Hiến pháp Dân chủ (democratic constitution) hoàn toàn dựa trên Giới luật Phật giáo, và bản Hiến chương Nhân quyền của Liên Hợp Quốc để biên soạn, và chuẩn bị cho một mô hình đất nước Tây Tạng tự do ở tương lai:
04/01/2021(Xem: 17309)
Ngày Xuân ngày Tết, nếu ai tìm những giờ phút thanh thản yên tịnh bằng những bước nhẹ nhàng khoan thai vào vãng cảnh các chùa chiền tự viện, dâng hương bái Phật, nếu để ý sẽ thấy ở một vách tường nào đó treo bộ tranh mang tên gọi là “Thập mục ngưu đồ”. Không phải chốn già lam thiền viện nào cũng có trưng treo, vì đó không phải là điều bắt buộc thuộc thanh quy giới luật, nhiều khi chỉ được treo để trang trí, hay được trưng ra ở một nơi hằng ngày đi qua đi lại như để nhắc nhở, vậy nếu khi ta bắt gặp được tức là ta đang hữu duyên, hãy đừng bỏ dịp đứng trước bộ tranh mang những nét sơ sài ấy để ngắm từng bức mà chiêm nghiệm nghiền ngẫm.
04/01/2021(Xem: 12505)
Phật Vàng (Golden Buddha) có tên chính thức trong tiếng Thái là “Phra Phuttha Maha Suwana Patimakon”, nặng 5,5 tấn. Sau nhiều lần di chuyển, pho tượng hiện đang nằm trong đền thờ Wat Traimit, Bangkok, Thái Lan. Hiện tại, mặc dù các học giả vẫn chưa xác định chắc chắn nguồn gốc của pho tượng là bắt nguồn từ thời gian nào. Nhưng dựa theo cấu trúc của phần đầu bức tượng (hình quả trứng), thì có thể đoán rằng, nó ra đời vào dưới triều Sukhothai vào thế kỷ 13 – 14 – một trong những giai đoạn nổi tiếng nhất của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Thái Lan.
03/01/2021(Xem: 21084)
Một Số Danh Tăng Việt Nam Tuổi Sửu Thiền sư TRÌ BÁT (Kỷ Sửu 1049) Thiền sư TỊNH THIỀN (Tân Sửu 1121) Hoà thượng THÍCH ĐẠT THANH (Quý Sửu 1853) Hoà thượng THÍCH GIÁC NHIÊN (Đinh Sửu 1877) Thiền sư THÍCH CHƠN PHỔ - THUBTEN OSALL LAMA (Kỷ Sửu 1889) Hoà thượng THÍCH BỬU LAI (Tân Sửu 1901) Hoà thượng THÍCH THIÊN ÂN (Ất Sửu 1925) Hoà thượng THÍCH MINH THÀNH (Đinh Sửu 1937)
03/01/2021(Xem: 15348)
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Với một nước nông nghiệp như nước ta, hình ảnh con trâu nặng nề lầm lũi, kềnh càng cục mịch luôn gắn bó với những cánh đồng thửa ruộng, thân thiết với bao người nông dân chân lấm tay bùn, và gần gũi với lũ trẻ mục đồng thường nghêu ngao bài hát quen thuộc “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!”… Không chỉ như thế, trâu cũng đã từng gắn bó với cuộc đời một vài danh nhân lịch sử như Đinh Bộ Lĩnh, Đào Duy Từ… Đối với nền văn học nước nhà, con trâu còn có cái công rất lớn trong việc làm phong phú ngôn ngữ, nhất là trong ca dao- đồng dao-tục ngữ.
01/01/2021(Xem: 13885)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12961)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.