Tứ Chúng Đồng Tu

03/05/201203:34(Xem: 13457)
Tứ Chúng Đồng Tu

 buddha-5

 

TỨ CHÚNG ĐỒNG TU,

THÁNH PHÀM ĐỒNG CƯ ĐỘ

 

 

Bà Cụ nhà tôi và nhà tôi chuyên tu Tịnh Độ. Mỗi ngày bà cụ ít nhất ba lần công phu niệm Phật. Nhà tôi ít nhất mỗi ngày một lần, từ 5 giờ đến 7 giờ sáng. Khi nghe bàn đến chuyện Tịnh Độ thì nhà tôi như rồng gặp mây, thao thao bất tuyệt, cho rằng mình đã đi đúng đường, vì căn cơ thấp nên không thể hành trì thiền quán mà chỉ biết trì danh niệm Phật, tụng kinh bái sám, để một ngày nào đó được vãng sinh vào thế giới Cực Lạc.

Tôi hỏi nhà tôi tại sao cầu vãng sinh Cực Lạc? Cực Lạc nằm ở đâu? Cực Lạc có gì hay mà cầu vãng sinh? Bà nhìn tôi có vẻ không tin vào lỗ tai của bà ta, vì một Phật tử ai lại hỏi những câu hỏi lạ kỳ như vậy. Tôi lại làm cho bà bối rối them khi tôi nói trong đạo lý Thật Tướng, thì làm gì có sinh tử, khổ đau? Trong đạo lý Bất Sinh, Bất Diệt, Bất Lai, Bất Khứ thì làm gì có Ta Bà, Tịnh Độ.  Trong đạo lý Như Như, thì Như Lai không xuất thế, Như Lai không nhập Niết Bàn, thì làm gì có Cực Lạc, Ta Bà? Rồi tôi dẫn chứng lời Phật dạy trong Kinh Duy Ma Cật: “Này Bảo Tích, chúng sinh là cõi Phật của Bồ Tát, vì sao vậy? Vì Bồ Tát muốn giáo hóa chúng sinh, muốn điều phục chúng sinh, tùy tâm nguyện chúng sinh mà tiếp nhận cõi Phật. Như người muốn xây dựng lâu đài phải xây trên đất chứ không phải xây trong hư không. Bồ Tát cũng thế, vì muốn thành tựu chúng sinh mà tiếp nhận cõi Phật.”

Bà được thế, chụp vội: “Anh thấy chưa trong đoạn Kinh anh dẫn chứng Phật dạy…” Tùy tâm nguyện chúng sinh mà Bồ Tát tiếp nhận cõi Phật.” Như vậy rõ ràng là có cõi Phật được Bồ Tát vì chúng sinh mà tiếp nhận.”

Tôi nói: “Thôi được, cho bà có lý đi. Bà có biết không, niềm tin nơi đức Phật A Di Đà là kết quả của sự chiêm nghiệm về Báo Thân và Pháp Thân Phật. Nếu vượt qua mọi hình tướng, sắc thái của vị Phật lịch sử, vị Hóa Thân Phật, ta sẽ tìm thấy một đức Phật lý tưởng hợp với quả vị phước báo từ bao số kiếp, hợp với sự giác ngộ viên mãn. Nói một cách khác, nếu chúng ta mô tả một vị Phật dựa trên căn bản giác ngộ viên mãn, chúng ta sẽ có một đức Phật tràn đầy ánh sáng, sống lâu vô lượng kiếp, đức Phật Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang. Bà thường đọc Kinh Pháp Hoa, trong Kinh, đức Thích Ca Mâu Ni ẩn dụ cho hàng đệ tử không nên xem ngài như một vị Phật sinh ở xứ Ca Tỳ La Vệ, xuất gia, hành thiền, tu chứng, nhập diệt, một vị Phật với thọ mạng 80 năm, với công hạnh trên 45 năm, mà ngài thật sự là một vị đã thành Phật lâu đời, lâu kiếp, thời gian vô cùng, hiện thân khắp nơi, không gian vô tận, là đức Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang Phật, không khác đức Phật A Di Đà…”

“Nhưng cảnh giới Ta Bà”, tôi nói tiếp “theo Kinh A Di Đà làm bằng vàng, bằng ngọc, bằng trân châu, mã não có vẻ nhân tạo như vậy đâu có thích thú, làm gì có ánh mặt trời, có cảnh chiều tà, có chiếc lá vàng rụng cuốn theo chiều gió, làm gì có trận mưa ngâu, làm gì có ánh bình minh chói rọi… những vẻ đẹp thiên nhiên mà thế giới Cực Lạc không có! Còn nữa, sinh trên đài sen, trong vườn hoa sen ngũ sắc, nghe âm nhạc suốt ngày! Bà cứ tưởng tượng mình bị đầy ra Côn Đảo, hòn đảo lớn như vậy mà mình còn cảm thấy tù túng, bị cô đơn, bây giờ ngồi trên đài sen, giữa hồ, thì cô đơn biết mấy, tù túng biết mấy, rồi còn phải nghe nhạc suốt ngày, không có phút nào yên tĩnh, thì làm sao chịu cho nổi!”

Bà ta có vẻ bực tức nói: “Không ngờ anh quá gàn bướng.  Tưởng anh nghiên cứu sách Phật nhiều, tưởng anh đa văn, túc trí, không ngờ anh không có một sáng tạo nào cả! Anh có nghe câu “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan không?” Lời nói trong Kinh A Di Đà là để diễn tả sự hoàn hảo của thế giới Cực Lạc và lẽ dĩ nhiên ngôn từ không làm sao chuyên chở được toàn ý nghiã.  Chính vì vậy mà Phật sau 49 năm thuyết pháp đã dạy là Ngài không nói một lời nào.”

Không ngờ bà ta khá thật. Tôi hỏi thêm để thử khả năng thâm nhập Phật lý của bà: “Thế giới Cực Lạc như vậy có khác gì Thiên Đường! Bà cầu về Cực Lạc để hưởng thụ và tệ nhất là để hưởng thụ cá nhân mặc cho ai sống khổ đau ở thế giới Ta Bà!”

Bà nói: “Tôi chán anh quá, anh chả biết Phật Pháp tí nào cả.  Thế mà đòi viết sách Phật, ưa đi giảng đạo. Khi lý tưởng về Niết bàn vượt không gian, thời gian, được thể hiện thì đấy chính là Vô Tận hay Vô Lượng, là Di Đà hay Amida hay Amitabha. Sự mô tả về cảnh Cực Lạc chỉ là giải thích đặc tính Vô Lượng của giác ngộ viên mãn. Cực Lạc là nơi Tứ Chúng đồng tu, nơi Thánh Phàm cùng cư trú (Tứ Chúng Đồng Tu, Thánh Phàm Đồng Cư Độ), không phải là nơi chỉ để hưởng lạc mà là nơi thuận tiện cho con đường tiến tu của Tứ Chúng, không phải ích kỷ cho riêng mình, mà là nơi Thánh cũng như Phàm cùng nhau sống, tu, trên hành trình giác ngộ, giải thoát và hành trình ấy được xây đắp không bằng tự lợi mà bằng lợi tha, chính lợi tha là tự lợi, nên không phải dửng dưng trước sự khổ đau của đồng loại, chúng sinh. Kinh Hoa Nghiêm khai triển đạo lý trùng trùng duyên khởi, chủ trương vạn vật trên thế gian liên hệ mật thiết với nhau như lưới pháp châu, mọi động tác, lời nói, ý nghĩ ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, tự lợi là lợi tha, lợi tha là tự lợi, không có cái gì đứng riêng rẽ một mình.”

Bà dừng lại, rồi nói: “Chắc anh biết hết rồi, muốn chọc quê em chứ gì. Có điều em muốn hỏi anh, trong các Kinh khác Phật thường dạy ‘Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi’ bây giờ Kinh A Di Đà lại nói nhờ vào tha lực vào sự cứu độ của Phật A Di Đà, như vậy có mâu thuẫn không anh?”

Tôi nói: “Không biết bà đã đọc Kinh Na Tiên Tỳ Kheo chưa? Trong Kinh thuật chuyện vua Milinda, một hoàng đế Hy Lạp trì vì Sagara vào khoảng năm 115 trước kỷ nguyên, hỏi ngày Na Tiên (Nagasena) tại sao người ác lại được cứu độ nếu tin tưởng vào vị Phật trước khi chết. Na Tiên trả lời, một hòn đá dầu nhỏ mấy đi nữa, nếu quăng xuống nước, nó sẽ chìm, nhưng một tảng đá nặng ngàn cân, nếu để trên chiếc tàu cũng sẽ nổi trên mặt nước.  Ngài Long Thọ (Nagarjuna 100-200) nói có hai phương tiện đưa đến Phật quả, một khó như đi bộ, một dễ như đi thuyền. Tín ngưỡng Di Đà là con thuyền chở người đến cõi Tịnh Độ.”

 

Đời là một cuộc hành trình. Trong dòng sinh tử Ta Bà, chúng ta đã trải qua bao nhiêu số kiếp, bao nhiêu cuộc hành trình, bập bềnh trên sóng vô minh, tật đố, thị phi, đầy khổ não. Nhưng cuộc đời thật sự đáng chán như vậy sao? Người tu Tịnh Độ nhìn đời không những là cuộc hành trình mà còn là chuyến hành hương.  Bà Vi Đề Hy được Phật khai thị đã đi hành hương từ Phật độ này đến Phật độ khác, cuối cùng bà chọn cảnh Tịnh Độ làm nơi an dưỡng, tiến tu. Nhờ kinh nghiệm khổ đau mà bà Vi Đề Hy được thấy cảnh Tây Phương Cực Lạc. Ta Bà là chuyến hành hương.  Thế giới khổ đau là hy vọng chứ không phải tuyệt vọng. Đạo lý Tịnh Độ không bi quan yếm thế mà là đạo lý Bạt Khổ Dữ Lạc, đạo lý dứt khổ cho vui.

Phương pháp diệt khổ dữ lạc của đạo Bồ Tát như thế nào?  Ngay trong khổ đau mà tìm ra giá trị tôn giáo và đạo đức. Không xa lánh, không trốn tránh, không loại bỏ mà cưu mang tất cả.  Cảnh giới Cực Lạc có chin phẩm, dung chứa chín trình độ tu chứng, dung chứa 4 chúng đệ tử, dung chứa thánh, phàm. Tuy có trật tự 9 phẩm, tuy có thấp cao giữa Hạ Phẩm Hạ Sinh đến Thượng Phẩm Thượng Sinh, nhưng không vì phẩm trật mà loại bỏ, mà bớt cưu mang, Thánh Phàm không vì vậy mà phải phân biệt chống đối lẫn nhau, Thánh Phàm cùng nhau tu tập, thẳng tiến trên hành trình giải thoát, giác ngộ.

 

Cảnh giới Cực Lạc huy hoàng rực rỡ mà hài hòa dung dị.  Những người tu Tịnh Độ không thể không đem biểu tượng này áp dụng vào đời sống hằng ngày, vào mọi hành hoạt của mình, đối với bản thân, với người đồng đạo, với cộng đồng nhân loại. Ta không thể xây dựng Tịnh Độ trong hư không mà xây dựng nó trên nền tảng vững chắc, trên những yếu tố nhân duyên phù hợp với thế giới Tịnh Độ, được khai triển từ trong Tứ Nhiếp Pháp:  Bố Thí, Ái Ngữ, Lợi Hành, Đồng Sự.

Bố Thí ở đây là san sẻ. San sẻ tài vật, san sẻ đạo pháp, san sẻ cái vui, cái buồn, cái vinh, cái nhục của nhau, cho nhau, để làm tăng trưởng Phật tính duy nhất của toàn thể chúng sinh, để cùng giúp nhau tiến tu trên đường giải thoát, để cùng nhau hướng về cảnh Tây Phương Cực Lạc.

Ái Ngữ ở đây là những lời nói nhu mì, thương yêu, thông cảm, công bằng, hợp lý.  Không che dấu tội phạm nhưng không làm bức xúc những người phạm lỗi, cổ vũ ưu điểm hơn là khuyết trương nhược điểm, mục đích giúp nhau trên hành trình giác ngộ, giải thoát, giúp nhau trong nhiệm vụ cứu mình, cứu người, là nền tảng âm nhạc trong cảnh Tây Phương Tịnh Độ.

Lợi Hành ở đây là mọi ý nghĩ, lời nói, hành động đều hướng đến phúc lợi cho mình, cho người, làm nền tảng cho Tứ Chúng Đồng Tu, Thánh Phàm Đồng Cự Độ.

Đồng Sự ở đây là không phân biệt ngã nhân. Nặng nhọc không từ, hành hoạt trong mọi hình hài, “tố phú quí hành hồ phú quí, tố bần tiện hành hồ bần tiện, tố di địch hành hồ di địch.” “Một là tất cả, tất cả là một” thiên hình vạn trạng, “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên.”

 

Xuất phát từ tâm từ bi, đạo Bồ Tát kiến thiết Tịnh Độ để nâng cao lý tưởng Bồ Tát, để hình thành lý tưởng độ sinh. Tịnh Độ là công năng xã hội hóa lý tưởng tự độ, độ tha.  Không có Tịnh Độ thì lý tưởng Bồ Tát không thể thành tựu. Không có Ta Bà thì lý tưởng Bồ Tát không có cơ sở và cơ hội thực hiện.

Sau khi Phật thành đạo, bài thuyết pháp đầu tiên Dhammacakka Pavattana, thường dịch là Kinh Chuyển Pháp Luân, được dịch ra tiếng Anh là Kiến Thiết Vương Quốc Chánh Pháp (The Establishment of the Kingdom od Truth). Cách dịch này khá ý vị. Đức Phật là vị Pháp Vương, muốn xây dựng một Vương Quốc Chánh Pháp. Đưa cái Vương Quốc Chánh Pháp ấy đến cực độ mà phác họa nó thành cụ thể, đó là thuyết Tịnh Độ.  Tịnh Độ có nhiều đặc tướng, nhưng đặc tướng quan trọng nhất là sự hoàn bị trật tự đạo đức. Nhìn vào nội dung Bản Nguyện, về phương diện tiêu cực là ngăn ngừa mọi tội lỗi, về phương diện tích cực là khuyến khích mọi người cùng tiến đến đạo đức và nền tảng của đạo đức là Tứ Nhiếp Pháp.

Tịnh Độ ở phương tây có Thế Giới Cực Lạc, ở phương đông có A Sơ Phật Quốc. Giữa hai cảnh Tịnh Độ này có một quan hệ mật thiết:  Nếu ở cõi Phật này xảy ra đại sự (đại thuyết pháp chẳng hạn) thì cõi Phật khác gửi sứ giả đến tùy hỷ, tán thán, nói lên tinh thần Tịnh Độ liên kết mười phương. Hành giả Tịnh Độ, người tu Phật không thể bỏ qua yếu tố này, yếu tố yểm trợ lẫn nhau, cùng nhau sách tấn trên đường giải thoát, giác ngộ.

Người tu Tịnh Độ hay người nỗ lực trên hành trình giác ngộ phải đầy đủ 4 tư lương cần thiết đó là Tín Tâm, Chí Thành Tâm, Thâm Tâm, Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm. Không những người tu Tịnh Độ mà bất kỳ người muốn hành hoạt Phật sự nào cũng phải đầy đủ 4 tư lương ấy.

Trước khi dùng 4 tư lương cho cuộc hành trình, cần phải hành trì Sám Hối. Tác dụng của Sám Hối cũng như người ta mỗi buổi sáng thức dậy đánh răng, súc miệng, rửa mặt, tắm gội cho thân thanh tịnh, thì Sám Hối là phương thức làm cho tâm thanh tịnh. Kinh Đại Thừa Bổn Sinh Tâm Địa Quán nói: “Sám hối có thể thiêu đốt củi phiền não, sám hối có thể vãng sanh cõi trời, sám hối có thể được cái vui tứ thiền, sám hối như mưa báu Ma Ni Châu, sám hối có thể ra ngục tam giới, sám hối có thể khai hoa bồ đề, sám hối thấy được Đại Viên Kính của Phật, sám hối có thể đến nơi Bảo Sở.”

Mọi hành hoạt của người con Phật, của Phật Giáo, phải bắt đầu bằng Sám Hối, cho bao nhiêu ân oán thị phi, thương buồn, ghét giận đều rửa sạch, cho lòng thanh thỏa, “hội họp trong hòa thuận, thảo luận trong hòa thuận, chia tay trong hòa thuận,”, thực hiện một cơ cấu, một tổ chức trong đó Tứ Chúng Đồng Tu, Thánh Phàm Đồng Cư Độ.

 

Ở trên tôi có nói đời là cuộc hành trình, đời là chuyến hành hương. Nói đến hành trình, hành hương là nói đến người tham gia, nói đến những đoạn đường đi qua. Người tham gia có kẻ đến trước, có kẻ đến sau, có hàng thanh niên sức khoẻ dồi dào, có bậc phụ lão gần đất xa trời; những đoạn đường đi qua có nơi bằng phẳng, có chỗ gập ghềnh. Không vì thành phần tham gia khác nhau, không vì những đoạn đường khác nhau mà ta thối chuyển, mà không cố gắng vượt qua.

Cuộc sống, Duy Thức gọi là Hằng Chuyển Như Bộc Lưu, như giòng nước chảy, biến chuyển không ngừng. Chuyển biến nên không có tự ngã, không có gì để bám chặt vào. Đợt nước này qua đợt nước khác nối nhau chảy, biến thành giòng nước, nói lên sự liên tục và tương liên của nó. Hiện hữu nhưng không có tự ngã.  Trong cái hiện hữu ấy, chúng ta khổ, chúng ta bức xúc, nhưng cũng trong cái hiện hữu ấy chúng ta có dịp hoàn thành tâm nguyện, có dịp tiến tu. Trong cái thế giới cạnh tranh có những hùng tâm muốn kiến tạo một xã hội lý tưởng trên lập trường Lân Mẫn Hữu Tình. Phật Giáo có giúp cho họ nơi nương tựa ấy? Có giúp họ triển khai tinh thần đại từ bi, tinh thần “Ngũ Trược Ác Thế Thệ Tiên Nhập, Như Nhất Chúng Sinh Vị Thành Phật, Chung Bất Ư Thử Thủ Nê Hoàn?”

 

Trí Không - Trần Quang Thuận

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/12/2016(Xem: 46985)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
20/12/2016(Xem: 13053)
Ngày cô gái chuẩn bị về nhà chồng, cô đến đảnh lễ Phật và xin đôi lời dạy bảo. Phật nói cô giữ gìn 2 điều: Một là, đừng mang lửa từ nhà ra ngoài và cũng đừng mang lửa từ ngoài vào nhà. Hai là phải luôn soi gương. Cô gái không hiểu, xin Phật dạy rõ.
18/12/2016(Xem: 9477)
Như thông lệ hằng năm, giữa tháng 12 là lúc thời điểm Pháp hội Puja of Merit Accumulation khai hội tu tập & cầu nguyện cho'' Thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc'' tại Bồ Đề Đạo Tràng. Nhân cơ duyên này, chúng tôi đã được quí vị pháp hữu, thiện hữu phát tâm cúng dường gieo duyên cùng Pháp hội và chư Đại tăng trong thời gian 1 tuẫn lễ pháp hội diễn ra. (Dec 15 to Dec 22-2016)
14/12/2016(Xem: 18283)
Bước vào thiên niên kỷ mới, trong mười năm của giai đoạn đầu tiên (2006-2016), Phật giáo đã khai dụng được nhiều cơ hội nhưng cũng phải đối diện với lắm thách thức giữa một thế giới đầy biến động. ● Xin nhận diện một số cơ hội: Xu thế mà người dân trong hai lục địa Âu và Mỹ đón nhận Phật giáo vừa như một triết lý sống nhân bản, vừa như một khoa học trị liệu hiệu quả đã bước qua khỏi giai đoạn nghiên cứu kinh viện để lan tỏa ra trong nhiều lãnh vực ứng dụng thiết thực khác của đời sống. – Hiện tượng những tổ chức Phật giáo quốc gia đơn lẽ đang nhịp nhàng gia nhập vào các mạng lưới Phật giáo quốc tế đã trở nên chặt chẻ hơn. – Những công trình nghiên cứu và khảo sát kinh điển Phật pháp càng lúc càng nhiều và càng có phẩm chất nhờ ứng dụng công nghệ thông tin khi xử lý các văn bản. – Nghệ thuật và văn học Phật giáo được giới trí thức trên thế giới khám phá và xác nhận như một dòng chủ lưu đóng góp vào những giá trị nhân văn của nhân loại – …
12/12/2016(Xem: 13085)
Thưa bà, lâu nay ít thấy bà “xuất hiện” trên mặt báo, phải chăng bà đang có dự án mới? Tạ Thị Ngọc Thảo (TTNT): Đúng, hơn nửa năm nay tôi ít “xuất hiện” trên mặt báo là vì những đề tài tôi quan tâm, nghiên cứu và viết ra đã gởi thẳng đến “địa chỉ” nơi nhận. Và tôi cũng nhận được phản hồi tích cực, vì nơi gởi và nơi nhận cùng trăn trở một mối lo “sau khi du lịch biển và đánh bắt không còn là thế mạnh thì làm sao để chuyển đổi ngành nghề cho bà con các tỉnh miền Trung”? Rồi hai bên cùng bàn cách “làm như thế nào!”. Chúng ta đều biết, có những việc nhờ báo chí đưa duyên, nhưng có những việc làm trước nói sau; cho chắc (cười).
09/12/2016(Xem: 11457)
Các thiền sư Phật giáo luôn nhắc nhở các đệ tử không được phát khởi vọng niệm ham muốn (tham), cho dù đó là “ham muốn được thành Phật”; không được phát khởi vọng niệm sân hận, cho dù đó là “sân hận người đã giết cha của mình”; không được phát khởi vọng niệm si mê (si), tin tưởng một cách mù quáng, cho dù đó là “tin tưởng vị thầy của mình”. Thamsân-si là ba chất độc gây đau khổ cho bản thân của chính mình và cho người khác. Trong cuộc sống hàng ngày, người Phật tử cũng còn phải thực tập để làm ngược trở lại những tiến trình của “tham-sân-si”. Thí dụ: Muốn tránh tánh tham lam (lấy vào), thì phải thực tập bố thí (cho ra); Muốn tránh “thù hận”, thì phải thực tập “hiểu và thương” bằng việc làm từ thiện; muốn tránh “si mê”, thì phải thực tập hơi thở chánh niệm, ý thức về lời nó
09/12/2016(Xem: 11041)
"Hoằng pháp thị gia vụ" đó là câu nằm lòng cho những trưởng tử Như Lai, khi bước chân vào đời. Mọi việc qua bốn oai nghi đều mang trọng trách: "Tác Như Lai sứ". Và khi hành động bất cứ việc gì cũng đều là việc Phật: "Hành Như Lai sự". Qua 35 năm thành hình một tổ chức Phật giáo thống nhất ba miền với các hệ phái, Phật sự từ đó cũng được đáp ứng tùy từng giai đoạn. Mỗi hệ phái, tông phong cũng được duy trì và phát triển chung với sự phát triển của Giáo Hội.
03/12/2016(Xem: 8015)
Cộng đồng Phật giáo chỉ là một nhóm thiểu số tại Cuba. Dù vậy, họ vẫn đang có những bước đi lặng lẽ thơ mộng và trang nghiêmtại đảo quốc xinh đẹp này. Và cũng kỳ lạ, Omar Perez, một nhà thơ và là một nhạc sĩ nổi tiếng ở Cuba – con trai của lãnh tụ du kích Che Guevara – đã trở thành một tu sĩ Thiền Tông.
03/12/2016(Xem: 10808)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng những nạn nhân từ các thảm họa của thiên nhiên, hoặc của con người gây nên. Có ai đã được gì sau chiến tranh và thiên tai? Có ai được hả hê sung sướng trên những bệnh tật, đói lạnh, xác người chết cứng, và nước mắt khổ đau của những kẻ sống còn sau một cơn hồng thủy, động đất, giông bão… hay sau một vụ oanh kích, nổ bom tự sát…?
09/11/2016(Xem: 18135)
Bài viết này [“Biểu nhất lảm Tam Tạng Kinh Điển Phật giáo” (An Overview of the Buddhist Tripataka)] nhằm cung cấp một cái nhìn duyệt qua kho tàng Kinh điển Phật giáo từ ngày Đức Phật Thích-ca Mâu-ni [khoảng 560 – 480 trước Công Nguyên (tr. CN)] còn tại thế cho đến ngày nay. Đạo Phật đã có một lịch sử trên 2.500 năm.