Nghĩ về hạnh phúc

07/01/201223:02(Xem: 12417)
Nghĩ về hạnh phúc
Nghĩ về hạnh phúc 
nhân ngày Quốc tế hạnh phúc 20.03.2014
Lưu Đình Long
Từ tháng 6-2012, Liên Hiệp Quốc lấy ngày 20-3 làm ngày Quốc tế hạnh phúc. Năm 2014, lần đầu tiên ngày Quốc tế hạnh phúc được tổ chức ở Việt Nam với chủ đề "Yêu thương & chia sẻ".

Hạnh phúc là điều ai cũng hướng tới, tìm kiếm, mỏi mong có được. Và, hạnh phúc, đối với mỗi người hoàn toàn không giống nhau, cách gọi tên hạnh phúc khác nhau do hoàn cảnh sống sai biệt và do cách nhìn về cuộc sống không như nhau.

Có người có cơm no, áo lành là hạnh phúc vô bờ, người khác là phải cơm ngon, mặc đẹp thì mới được gọi là hạnh phúc.

Có người sống là hạnh phúc, người khác chết có khi hạnh phúc hơn, dẫu làm người ai cũng mong được sống, sợ sự chết.

Có người nghĩ rằng giàu có mình sẽ hạnh phúc, nhưng khi giàu có thì bất hạnh lại dồn dập, vì cái giàu ấy khiến anh em mất hòa khí, con cái sống buông lơi, vợ chồng không còn cảm thông nhau được nữa.

Có người cho rằng được yêu một người vừa xinh đẹp, vừa giỏi giang là điều may mắn, nhưng không ngờ chính vì sự xinh đẹp, giỏi giang ấy đã khiến cho bản thân... lép vế, trở thành người bị vợ đì, coi thường, không còn thấy hạnh phúc...

Người xưa nói, ở trong chăn mới biết chăn có rận. Đôi khi ta nhìn thực thể mà mình chưa có, tự nghĩ nếu có rồi chắc sẽ hạnh phúc lắm đây. Nhưng, nghe người có rồi giãi bày mới thấy họ bất hạnh hơn mình. Oái ăm của cuộc sống là như thế, có cái người này muốn lại được sắp cho người kia và ngược lại, khiến hai người nhìn nhau, thèm thuồng điều người kia đang có.

Chính vì thế mà có câu: cá trong lờ đỏ hoe con mắt, cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô. Và, chính vì thế mà có ông vua vì nghiệp đế vương của mình phải gánh gồng mà thầm ao ước: "Giá trẫm được một ngày làm người nông dân tự tại, đi làm về, mệt nghỉ, đói ăn thì hạnh phúc biết mấy...". Nhưng, chắc cả khối người chân lấm tay bùn ngoài thành xa xôi kia cũng đang ước mình được làm vua thiên hạ, dẫu chỉ một ngày thì chết cũng mãn nguyện.

Tất nhiên, cuộc sống con người đã được sắp xếp, dắt dẫn (do nghiệp, không phải tạo hóa nào nhúng tay).Nghiệp do chính người đó tạo, theo quy luật gieo nhân gì, gặt quả nấy. Khi quả đã trổ rồi thì phải hoan hỷ, chấp nhận và luôn có ý hướng sống tốt đẹp lên, thanh lương với mình, với đời, với người thì sẽ nhẹ tênh, dù có là vua hay dân. Khi mình đang là "vai diễn nào đó" thì hãy diễn thật tốt vai trò của mình, khi ấy mình sẽ bình yên, hạnh phúc.

Hạnh phúc không thể có khi anh cứ đứng núi này trông núi nọ. Đạo Phật gọi là không an trú. Những ước nguyện, nếu có thì cũng đừng nằm ngoài khả năng thực tế, có thể làm được thì mới nghĩ tới, hướng về, cố gắng để làm. Và quá trình làm cũng là lúc mình cảm thấy hạnh phúc, an lạc, chứ không phải cố ép xác để đạt được mục tiêu. Nếu không thì sẽ thất vọng, gọi tên thất bại rồi chán, chê chính mình, bế tắc đến mức không còn thiết sống.

Còn nếu có đạt được mà trầy vi tróc vảy, trên đường đi ê chề đau điếng thì cái ta gọi là hạnh phúc ấy thực ra là một mục tiêu xa vời đã bóp chết nhiều bình an trong ta, trong cả một quá trình chinh phục. Chính vì thế, có vị thiền sư nhắc mình rằng, hạnh phúc là con đường, là mỗi bước chân thong dong đi tới mục tiêu (tốt đẹp phía trước) chứ không phải là chiến đấu, chạy đến nó một cách bán sống bán chết.

Có câu nói vui cho chuyện này, rằng, cố gắng nhưng đừng có cố quá thì dễ... quá cố lắm nghen. Câu ấy nếu nhìn với mắt trí tuệ của nhà Phật thì cũng không khác thiền ngữ, nhắc mình hãy biết lượng sức mình. Đừng có lấy thước đo hạnh phúc, thành công của người khác rồi làm chuẩn cho mình, trong khi ta không hề có những điều kiện như họ.

Vậy nên, hãy gọi tên hạnh phúc cho mình, bằng cách nhận diện được bản thân, hoàn cảnh. Ông bà, cha mẹ mình, thế hệ trước ước ao đất nước ngớt chiến tranh, độc lập tự do là hạnh phúc. Thời gian trôi, vấn đề áo cơm trong ngày không tiếng súng là một ước mong mang tên hạnh phúc. Khi đã tạm đủ đầy đây đó (dẫu biết dân nghèo ở đâu cũng có, ở mình còn nhiều) thì việc số đông người thừa mứa uống ăn, dư dả chất bổ cũng khiến nỗi khổ theo về, dư cân và bệnh tật...Cứ thế, cái may của cuộc sống là khi mình được đủ đầy, nhưng đôi khi dư dả lại chính là cái hại. Thôi thì, cứ sống sao cho mình "bớt muốn và biết đủ" để không hại người, hại mình là hạnh phúc. Bớt muốn, biết đủ thì mới rộng rãi lòng mà sẻ chia, dù ở hoàn cảnh nào.

Và nhớ là mình và người có mối liên hệ mật thiết, nếu hại mình đừng chỉ nghĩ mình bị hại không mà kéo theo đó là những hệ lụy tiêu cực mà người khác phải chịu, phải giải quyết. Và, tặng cho người đừng nghĩ mình mất đi, mà là mình đang gieo nụ cười, bỏ vô ngân hàng phước đức, thấy niềm hạnh phúc được sẻ chia của họ mà hoan hỷ. Thậm chí thấy niềm hoan hỷ của người đi trao tặng mà tùy hỷ (thay vì ganh ghét) thì mình cũng thấy hạnh phúc hiện diện y chang người bỏ công sức, tiền bạc đi cho vậy đó.

Nghĩ thế để nhẹ lòng, cố gắng đừng nhìn mọi thứ thành u ám, mà dẫu mọi thứ có u ám đi chăng nữa thì cũng đừng có xem đó là điều gì đó đáng chán, hãy thắp lửa, thay vì nguyền rủa bóng đêm, trở lại quán chiếu để xin lỗi chính mình vì đã gieo nhân chi đó mới sanh vào nơi mà nhìn đâu cũng... thấy ghê, thấy gớm. Cái lý ấy là lý nhân quả, là điều tất nhiên để mà à, ừ, trở lại làm mình mới lên theo hướng tích cực, đừng vùi mình xuống sâu hơn giữa ngập ngụa buồn thương nhân thế...
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2021(Xem: 11051)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 11774)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12552)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11487)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11643)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12317)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 11825)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11447)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 9975)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/2020(Xem: 12849)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.